Sửa Chữa Máy Tính Tại Nhà - LH: 090 421 6667 - Phục Vụ Tân Nơi

Sửa Chữa Máy Tính Tại Nhà - LH: 090 421 6667 - Phục Vụ Tân Nơi

Công Ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Tin Học NTC
 
Trang ChínhCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Top posters
admin
 
ngocthuanitc
 
caffêsữa
 
c8kttmdt
 
travelvietnam
 
vannhan_itc
 
ispace
 
TuoiTreNinhThuan
 
ninhthuan
 
ptmyoanh
 
Latest topics
» TESTGAME-THIÊN LONG TINH VÕ SERVER CHUYỂN SINH CỰC HAY VÀ MỚI LẠ TRANG BỊ MỚI, TÍNH NĂNG ĐẶC BIỆT BẢO THẠCH CÔNG NĂNG ĐẶC BIỆT, ĐỘC ĐÁO, HỖ TRỢ TÂN THỦ TỐI ĐA NHẬN 150.000 POINST, Nhanh Tay Tham Gia
Tue May 06, 2014 9:08 am by lubu123

» Kho game android cực khủng có chọn lọc
Fri Jan 03, 2014 12:06 pm by hmhung93

» game hay cho android
Wed Nov 13, 2013 10:35 am by dpbnamdinhntb

» game bắn trứng khủng long, pikachu ... hay cho android
Tue Oct 01, 2013 6:00 pm by dpbnamdinhntb

» Qua vụ hủy chuyến bay thấy sự thật ngành báo
Fri Aug 16, 2013 3:01 pm by thuyhung

» Hai người đàn bà độc ác nhất trong truyện kiếm hiệp
Wed Apr 17, 2013 10:49 am by mozart_nht

» Thiên địa quyết ra mắt máy chủ mới vào ngày 12/4
Fri Apr 12, 2013 2:02 pm by mozart_nht

» Thiên Địa Quyết - gMO kiếm hiệp hấp dẫn
Fri Apr 12, 2013 2:01 pm by mozart_nht

» Chơi game Đấu Giá Ngược Online để sở hữu Iphone 5 miễn phí
Fri Apr 12, 2013 2:00 pm by mozart_nht

» [HOT] Tổng hợp game java miễn phí
Fri Feb 01, 2013 2:31 pm by gamehaydidong

» [ Game Android ] Bộ sưu tập các game hot nhất hiện nay
Fri Feb 01, 2013 2:30 pm by gamehaydidong

» Top game java miễn phí mới nhất (update thường xuyên)
Fri Feb 01, 2013 2:20 pm by gamehaydidong

» [Game Android] Game Ai là triệu phú online - bản chuẩn free
Fri Jul 27, 2012 11:11 am by quickplay

» Trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật và du lịch sài gòn, saigonact
Tue Apr 03, 2012 1:36 pm by banchoconhcm

» ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP THI VÒNG 1
Wed Mar 28, 2012 11:34 pm by zzzalo

Số Lượng Truy Cập
Số Lượng Truy Cập
 


Y!M : ngocthuanitc

Share | 
 

 TÌM HIỂU VỀ BIOS VÀ CMOS

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
nhoklove
Member
Member
avatar

Tổng số bài gửi : 6
Tổng Số Điểm : 16
Ngày Tham Gia : 07/10/2010

Bài gửiTiêu đề: TÌM HIỂU VỀ BIOS VÀ CMOS   Mon Dec 27, 2010 6:37 am

Mục lục





TÌM HIỂU VỀ BIOS VÀ CMOS......................................................................................... 2


1. BIOS – CMOS...........................................................................................................
2


1.1. Giới thiệu chung..................................................................................................
2


1.2. Phân biệt............................................................................................................
2


1.2.1. BIOS là gì?.........................................................................................
2


1.2.2. CMOS là gì?.......................................................................................
3


1.3. Chức năng và
hoạt động
.....................................................................................
5


1.3.1. Chức năng...........................................................................................
5


1.3.2. Hoạt động...........................................................................................
6


1.4. Các thiết lập BIOS quan trọng............................................................................
6


1.4.1. Nâng cấp lên Phiên
bản BIOS mới nhất
................................................
6


1.4.2.
hiệu hóa các tính năng phần cứng có sẵn trên bo mạch
.................... 6



1.4.3. Vô hiệu hóa
các tính năng phần mềm có sẵn trên bo mạch
.................... 7



1.5. Cách
setup BIOS
...............................................................................................
9



1.5.1. Standard CMOS Setup.......................................................................
9


1.5.2. Advanced Setup................................................................................
10


1.5.3. Chipset Setup....................................................................................
15


1.5.4. Peripheral Setup................................................................................
18


1.6 Nâng cấp BIOS...............................................................................................
22


1.6.1. Tại sao phải nâng cấp BIOS?.............................................................
22


1.6.2. Sử dụng Flash BIOS.........................................................................
23


1.6.3. Phục hồi
Flash ROM
.........................................................................
25


1.6.4. Sử dụng IML
system partition BIOS
..................................................
26


1.7. Sự cố và khắc phục sự cố................................................................................
26


1.7.1. Lỡ quên password của
CMOS
..........................................................
26


1.7.2. Các mã bip của các loại
bios
..............................................................
27


1.7.3. Không điều chỉnh được tốc độ CPU..................................................
29


1.7.4. Lỗi nâng cấp hệ điều hành ................................................................. 29


1.7.5. Màn hình không có tín hiệu.................................................................
30


2. Overlock (Ép xung)...................................................................................................
30


2.1. Khái niệm.........................................................................................................
30


2.2 Lợi ích và rủi ro................................................................................................
31


2.3. Lý do không thể overlock.................................................................................
32


2.4.
Lý do có thể overlock.......................................................................................
32


2.5. Cách overlock..................................................................................................
33


2.6. Quá trình overlock............................................................................................
34


2.7. Những thành phần có
thể overlock
....................................................................
35


2.7.1. Ép xung CPU....................................................................................
35


2.7.2. Ép xung bộ nhớ.................................................................................
37


2.7.3 Ép xung card đồ họa..........................................................................
38











TÌM
HIỂU VỀ BIOS VÀ CMOS






1.
BIOS – CMOS


1.1.
Giới
thiệu chung



Frank Wanlass đã phát minh ra các mạch CMOS vào năm 1963 tại hãng
Fairchild Semiconductor.Vào năm 1968, vi mạch tích hợp CMOS đầu tiên đã được
sản xuất bởi một nhóm nghiên cứu tại RCA do Albert Medwin lãnh đạo.


Việc ra đời các thế hệ qui trình chế tạo bán dẫn mới, kích thước hình
học của các tranzito ngày càng giảm xuống dẫn đến một lọat cải tiến,đó là diện
tích chiếm chỗ của vi mạch giảm, tốc độ làm việc tăng, hiệu suất sử dụng năng
lượng tăng và giá thành chế tạo giảm. Hơn nữa, nhờ vào sự đơn giản và khả năng
tiêu tán công suất tương đối thấp của mạch CMOS, người ta có thể thực hiện vi
mạch có mật độ tích hợp cao mà vốn không thể làm được nếu dựa trên các
transistor tiếp giáp lưỡng cực.Khoảng 25 năm sau, CMOS đã trở thành kỹ thuật
chiếm ưu thế trong vi mạch tích hợp số.


Trong thời kỳ đầu, điện cực cổng được chế tạo bằng nhôm. Các qui trình
chế tạo CMOS đời sau chuyển sang dùng silicon đa tinh thể (“polysilicon”), chấp
nhận được tốt hơn ở nhiệt độ cao trong quá trình tôi silicon sau khi đã cấy
ion. Điều này cho phép nhà chế tạo có thể đặt cực cổng ngay từ những công đọan
sớm hơn trong qui trình và rồi dùng trực tiếp cực cổng như là một mặt nạ cấy để
tạo ra một cực cổng tự sắp đặt (cực cổng không tự sắp đặt sẽ đòi hỏi có sự
chồng lấp lên nhau khiến hãng sản xuất phải chấp nhận tăng kích thước
transistor và điện dung ký sinh). Vào năm 2004, cũng có những công trình nghiên
cứu đề nghị dùng lại cực cổng bằng kim lọai, nhưng cho đến nay, các qui trình vẫn
tiếp tục sử dụng cực cổng polysilicon. Cũng có những nổ lực lớn trong nghiên
cứu nhằm thay chất điện môi silicon dioxide ở cực cổng bằng vật liệu điện môi
k-cao để chống lại hiện tượng tăng dòng rĩ.





1.2.
Phân
biệt



Nhiều người lầm tưởng giữa BIOS và CMOS
trong hệ thống thực chất chúng là hai phần hoàn toàn tách biệt nhau.


1.2.1.
BIOS là gì?


Trong khoa học máy tính, BIOS là chữ viết tắt của Basic Input/Output System, nghĩa là hệ thống nhập/xuất cơ bản. BIOS nằm bên trong máy tính cá nhân,
bao gồm cả thủ tục khởi động và việc quản lý các tín hiệu nhập vào từ bàn phím

BIOS được xem như là chương trình được chạy đầu tiên khi máy tính khởi động. BIOS được nạp cố định trong một chip nhớ chỉ đọc (ROM -
ReadOnly memory) được để trên bo mạch chủ (MainBoard
).


Chức năng
chính của BIOS là chuẩn bị cho máy tính để các chương
trình phần mềm được lưu trữ trên các thiết bị
lưu trữ
(chẳng hạn như ổ cứng, đĩa mềm
đĩa CD
) có thể được nạp, thực thi và điều
khiển máy tính. Quá trình này gọi là khởi động.


Khi ta bắt đầu bật máy (khởi động nguội - Cold boot), hoặc khởi động lại
(khởi động nóng - Warm boot) bằng nút reset hay bằng tổ hợp phím Ctrl + Alt +
Del, các chương trình sơ cấp này sẽ được đưa vào máy tính để thực hiện quá
trình tự kiểm tra khi khởi động (POST - Power On Self Test) và kiểm tra bộ nhớ
(memory check). Nếu phát hiện ra có bất kỳ trục trặc nào của các bộ phận trong
máy tính hay bàn phím, ổ đĩa ... một thông báo lỗi sẽ xuất hiện trên màn hình.
Nếu mọi việc khởi tạo hoàn thành tốt đẹp, chương trình trong ROM sẽ tiến hành
đọc Boot sector hay Master Boot record ( tùy theo bạn đặt chế độ khởi động đầu
tiên từ ổ A hay ổ C trong CMOS ) vào trong RAM tại địa chỉ 0:07COOh.



§
Các loại BIOS


Thường thì bạn vẫn quen bấm phím Delete để
vào phần thiết lập BIOS. Tuy nhiên, đó chỉ là thao tác đối với phần lớn các máy
có xuất xứ từ Đông Nam Á. Ở các loại máy tính khác (sản xuất từ Mỹ chẳng hạn),
người dùng phải thông qua chương trình quản lý riêng để thay đổi các thông số
BIOS. Hiện nay có 2 loại BIOS:


ü
BIOS dạng text: Người dùng sẽ di chuyển phím
hướng để đưa vệt sáng đi tới các lựa chọn. Nhấn Enter để quyết định, Esc để
thoát (gõ Y khi muốn lưu thay đổi, N là không lưu.


ü
BIOS dạng Win: Đây là loại BIOS mới được phát
triển. Thay vì màn hình dạng text thông thường, các thông số hiện ra trên màn
hình màu với nhiều cửa sổ. Người dùng có thể di chuột hoặc phím hướng để chọn
lựa.





1.2.2.
CMOS là gì?


CMOS (Complementary Metal-Oxide-Semiconductor)
trong tiếng Anh, là một thuật ngữ chỉ một loại vi mạch tích hợp chủ yếu hiện
nay. Vi mạch tích hợp CMOS bao gồm vi xử lý, vi điều khiển, RAM tĩnh và các
mạch lôgíc số khác. Đặc tính cơ bản của công nghệ này là chúng chỉ tiêu thụ
năng lượng một cách đáng kể khi các tranzito của vi mạch chuyển giữa các trạng
thái đóng (ON) và mở (OFF). Kết quả là các thiết bị CMOS ít tiêu thụ năng lượng
và tạo ra ít nhiệt hơn so với các loại mạch lôgíc khác. CMOS cũng cho phép tích
hợp các hàm lôgíc với mật độ cao trên chíp.


Trong tên gọi của vi mạch này, thuật ngữ
tiếng Anh "complementary" ("bù"), ám chỉ việc thiết kế các
hàm lôgíc trong các vi mạch CMOS sử dụng cả hai loại tranzito PMOS và NMOS và
tại mỗi thời điểm chỉ có một loại tranzito nằm ở trạng thái đóng (ON.


Cụm từ "metal-oxide-semiconductor"
bắt nguồn từ một qui trình chế tạo các vi mạch tích hợp CMOS trước đây. Qui
trình này tạo ra các tranzito hiệu ứng trường mà mỗi tranzito có một điện cực
cổng bằng kim loại được đặt lên trên một lớp cách điện bằng oxide phủ trên vật
liệu bán dẫn. Ngày nay, thay vì dùng kim loại, người ta tạo ra điện cực cổng
bằng một vật liệu khác, đó là polysilicon. Tuy nhiên, tên gọi CMOS vẫn tiếp tục
được sử dụng trong các qui trình chế tạo hiện đại.


Một vi mạch tích hợp nhỏ chứa một lượng lớn
các tranzito CMOS đôi khi được gọi là vi mạch tích hợp CHMOS
(Complementary High-density metal-oxide-semiconductor).


Đôi khi, mạch kết hợp giữa các cảm biến
MEMS với bộ xử lý tín hiệu số được sản xuất trên một vi mạch tích hợp CMOS đơn
được gọi là CMOSens. CMOS đôi khi cũng được dùng để ám chỉ đến các bộ nhớ không
bay hơi trên bản mạch chủ của máy tính cá nhân, ví dụ bộ nhớ BIOS không bay
hơi.


Một chức năng khác của BIOS là cung cấp
chương trình cài đặt (Setup ProgRAM), đó là một chương trình dựa vào trình đơn
để bạn tự chọn các thông số cấu hình hệ thống cơ bản như ngày giờ hệ thống, câu
hình ổ đĩa, kích cỡ bộ nhớ, thông số Cache ... và trình tự khởi động kể cả mật
khẩu.


Ngày nay các BIOS còn cho phép lựa chọn các
thông số cài đặt cho các cổng, các giao diện đĩa cứng, các thiết lập ngắt PCI
... và nhiều thông số khác.
Các thông số tự chọn mang tính sống còn này sẽ được giữ lại trong chip CMOS
thuộc BIOS- các thông tin này không bị mất khi tắt máy vì được nuôi bằng pin.


Trên các PC hiện nay, BIOS thường chỉ sử
dụng 128 Byte đầu của CMOS để lưu trữ dữ liệu, còn 128 Byte còn lại chỉ là bản
lưu dự phòng của dữ liệu trên. Khi khởi động lại, BIOS luôn so sánh giá trị của
2 khối dữ liệu đó và nếu phát hiện được sự khác nhau nó sẽ yêu cầu bạn chạy
chương trình Setup để chỉnh lại các thông số đó.


+ Chip Chính: Đây là một con chip, 1 con IC vật lý mà các bạn hoàn toàn
có thể thấy trên các Mainboard. Con chip chính này có tên là ROM, là một bộ nhớ
chỉ cho phép đọc chứ ko cho Ghi theo đúng kiểu thiết kế ban đầu. Con ROM này
vào thuở ban đầu chỉ có nhà sản xuất mới có thể ghi thông tin vào nó bằng các
loại máy chuyên dụng (như tia cực tím hay gì gì đó chẳng hạn),
nếu
người dùng muốn nâng cấp nó thì chỉ lấy nó ra khỏi Mainboard và gắn 1 con khác
vào va update rất khó. Trải qua nhiều đời công nghệ từ ROM, EPPROM.... và cuối
cùng là FLASH ROM; con FLASH ROM này được chế tạo bằng bộ nhớ FLASH cho phép
người dùng ghi-xóa thông tin vào nó dễ dàng bằng điện.



BIOS là một phần
mềm lập trình sẵn, chứa các lệnh điều khiển hệ thống cơ bản do nhà sản xuất đưa
ra tương ứng với từng loại Model của Mainboard. Phần mềm này được lưu trong con
chip ROM mà trình bày ở trên. Như vậy phần mềm BIOS này sẽ điều khiển hệ thống
ở mức cơ bản thông qua con chip ROM. Khi ta update BIOS tức là ta đang ghi dữ
liệu lên FLASH ROM đó.



+
Chip Phụ:
Chính vì ROM là con chip chỉ cho đọc
vì thế người dùng ko thể cấu hình nó một cách trực tiếp được, mà phải thông qua
1 con chip phụ khác trên Mainboard đó là RTC/NVRAM. BIOS trong ROM muốn hoạt
động được thì trong lúc khởi động nó phải thông qua con chip NVRAM này để lấy
cấu hình, rồi thì sau đó mới chính thức đi vào hoạt động được . Con chip phụ
này chứa các thông tin cấu hình BIOS mà người dùng có thể tác động vào được (ví
dụ như: First Boot Device, ngày giờ hệ thống, pasword BIOS, chỉnh xung nhịp CPU
khi OC bằng tay, SPD cho RAM, bật tắt các thiết bị- các cổng xuất nhập v.v...).
Con chip phụ này cần nguồn điện một chiều nuôi để ko bị mất dữ liệu, và ko ai
khác chính là cục pin CR2032, hay tụ điện có điện dung cao như trước đây.Điều
này giải thích vì sao khi rút Pin CMOS thì cấu hình bị mất mà ROM BIOS ko bị
ảnh hưởng.






1.3.
Chức
năng và hoạt động



1.3.1.
Chức năng


BIOS được chứa sẵn (thường ở dạng nén dữ liệu) trong các con chip như là PROM,
EPROM hay bộ nhớ flash của bo
mạch chính. Khi máy tính được mở qua công tắc bật điện hay khi được nhất nút Reset,
thì BIOS được khởi động và chương trình này sẽ tiến hành các thử nghiệm khám
nghiệm trên các ổ điã, bộ nhớ, bo hình, các con chip có chức năng riêng khác và
các phần cứng còn lại.



BIOS là dạng phần mềm thứ ba mà mọi máy tính đều cần để vận hành. Các phần
mềm BIOS có một số vai trò khác nhau nhưng vai trò quan trọng nhất của nó là
nạp hệ điều hành. Khi máy tính được bật lên, bộ vi xử lý sẽ thực thi những lệnh
đầu tiên và các lệnh này phải được đọc ra từ đâu đó. Nó không thể đọc ra từ hệ
điều hành vì hệ điều hành được lưu trên đĩa cứng và bộ xử lý không thể thực thi
được nếu không được hướng dẫn. BIOS sẽ cung cấp những lệnh này. Các nhiệm vụ
khác mà BIOS thực hiện gồm:



ü
Tự kiểm tra POST (Power-on Self Test) tất cả các thiết bị phần cứng khác
nhau trên hệ thống để đảm bảo mọi thứ đều làm việc ổn định.



ü
Kích hoạt BIOS Chip trên các loại Card cài trên máy tính như SCSI hay
Graphic Card. Các Card này thường được cài sẵn các BIOS Chip trên nó.



ü
Cung cấp các tập tin thực thi mà hệ điều hành dùng để giao tiếp với các
thiết bị phần cứng. Chúng quản lý các thiết bị như bàn phím, màn hình, cổng khi
máy tính khởi động.



ü
Quản
lí một loạt các thiết lập cấu hình cho ổ cứng, tốc độ xung, v..v.





1.3.2.
Hoạt
động



§
BIOS là một phần mềm đặc biệt, nó giao tiếp các thiết bị phần cứng chính
yếu trong máy tính của bạn với hệ điều hành. BIOS thường được chứa trong chip
bộ nhớ flash trên bo mạch chủ, nhưng đôi khi chip lại là một loại ROM khác.



§
Khi bạn mở máy, BIOS thực hiện một số việc. Sau đây là trình tự thông
thường:



1.
Kiểm
tra giao diện CMOS để xem các thiết lập của người dùng.


2.
Nạp
bộ điều khiển ngắt và trình điều khiển của thiết bị.


3.
Khởi
nạp các thanh ghi và quản lí nguồn.


4.
Kiểm
tra các thiết bị phần cứng khi nguồn bật


5.
Thể
hiện các thiết lập cấu hình của hệ thống.


6.
Xem
xét đâu là thiết bị có thể khởi động được.


7.
Nhập
quá trình khởi động mồi.





1.4. Các thiết lập BIOS quan trọng cho việc quản lý nguồn điện và cấu
hình đặc tính



1.4.1.
Nâng cấp lên Phiên bản BIOS mới nhất.


Nếu bạn
gặp các sự cố về các tính năng và khả năng của bo mạch, bản sửa
đổi BIOS mới nhất có thể giúp bạn. Tuy nhiên, chúng tôi khuyên bạn nên
nâng cấp BIOS cho máy tính của bạn chỉ khi phiên bản BIOS mới hơn khắc
phục được riêng đối sự cố mà bạn gặp. Chúng tôi không khuyên bạn cập
nhật BIOS cho các máy tính không cần đến nó. Bạn có thể xem tất cả
mọi thay đổi đối với BIOS trong phần Chú Thích về Số hiệu phiên bản
có trong các trang cho phép tải BIOS về tại (http://downloadcenter.intel.com/default.aspx).





1.4.2.
Vô hiệu hóa các tính năng phần
cứng có sẵn trên bo mạch



Nếu bạn
muốn dùng thiết bị PCI bổ sung hoặc các card PCI Expres* để có được
các tính năng như âm thanh, LAN và video, bạn sẽ cần phải vô hiệu hóa
các tính năng có sẵn đó.


1.
Vào BIOS setup bằng cách nhấn phím [F2] trong khi
đang khởi động máy.


2.
Đến menu BIOS phù hợp:


i.
Âm thanh: Advanced > Peripherals Configuration


ii.
LAN: Advanced > Peripherals Configuration


iii.
Video: Advanced > Video Configuration


iv.
Đặt tính năng này là Disabled.


v.
Thoát ra và lưu lại các thay đổi [F10].





1.4.3.
Vô hiệu hóa các tính năng
phần mềm có sẵn trên bo mạch



Một số bo mạch để bàn Intel® cung cấp các tính
năng phần mềm cho phép quản lý hệ thống hoặc tăng cường phương tiện
truyền thông (media). Các tính năng này bao gồm:


1.
Mô đun hệ thống tin cậy


2.
Công nghệ quản lý hiệu quả Intel® Active


3.
Công nghệ quản trị mạng Intel® Platform


4.
Công nghệ hồi phục nhanh Intel® Quick Resume


5.
Mô đun hệ thống tin cậy


Mô đun hệ thống tin cậy có ở các bo mạch chủ
sử dụng cho các môi trường tập thể. Nó được thiết kế đặc biệt để
nâng cao tính an toàn của hệ thống nền máy tính vượt trội các khả
năng phần mềm hiện đại bằng cách cung cấp một môi trường bảo vệ cho
các hoạt động chủ yếu và các tác vụ quan trọng khác về an toàn.


§
Để vô hiệu hóa tính năng mô đun hệ thống
tin cậy:


1.
Vào BIOS Setup bằng cách nhấn [F2] khi đang
khởi động máy.


2.
Đến menu Advanced > Peripherals
Configuration.


3.
Đặt mục Trusted Platform Module là Disabled.


4.
Thoát ra và lưu lại các thay đổi [F10].


§
Công nghệ quản lý hiệu quả Intel® Active


Công nghệ quản lý
hiệu quả Intel® Active có trong các bo mạch chủ sử dụng cho các môi
trường tập thể. Nó là một giải pháp phần cứng sử dụng công nghệ
truyền dữ liệu ngoài-luồng cho phép tiếp cận khả năng quản lý hệ
thống đối với các hệ thống máy khách Ngay cả khi ổ đĩa cứng bị
trục trặc, hệ điều hành bị khóa, hoặc nếu một hệ thống đã bị
tắt, vẫn có thể truy cập được và hệ thống máy khách để thực hiện
các tác vụ quản lý cơ bản.


§
Để vô hiệu hóa công nghệ quản lý hiệu
quả Intel® Active


1.
Vào BIOS Setup bằng cách nhấn [F2] trong khi
đang khởi động máy.


2.
Đến menu Intel ME.


3.
Đặt mục Manageability Feature là None.


4.
Thoát ra và lưu lại các thay đổi [F10].


§
Công nghệ quản trị mạng Intel® Platform


Công nghệ quản trị mạng Intell Platform cung cấp
khả năng quản lý dễ dàng được thiết kế để duy trì được các hệ
thống sạch và ổn định trong môi trường nối mạng. Mục tiêu chính của
nó là các mạng có quy mô vừa và nhỏ như ở các điểm dịch vụ
Internet và các phòng lab tại các trường học.


§
Để vô hiệu hóa công nghệ quản trị mạng
Intel® Platform


1.
Vào BIOS Setup bằng cách nhấn [F2] trong khi
đang khởi động máy.


2.
Đến menu Manageability.


3.
Đặt mục Agent là Disabled.


4.
Thoát ra và lưu lại các thay đổi [F10].


§
Công nghệ hồi phục nhanh Intel®


Công nghệ hồi phục nhanh Intel là một tiêu chuẩn
của các bo mạch Media Series hỗ trợ công nghệ Intel® Viiv™.


§
Để vô hiệu hóa công nghệ hồi phục nhanh
Intel® Quick Resume


1.
Vào BIOS Setup bằng cách nhấn [F2] trong khi
đang khởi động máy.


2.
Đến menu Power.


3.
Đặt mục Intel Quick Resume Technology là
Disabled.


4.
Thoát ra và lưu lại các thay đổi [F10].


Các bo mạch chủ Intel hỗ trợ hai trạng
thái dự phòng ACPI: S1 và S3. Trạng thái S3 được biết như là Tạm
ngưng RAM (STR) và đem lại mức tiết kiệm điện lớn nhất. Trong lúc ở
trạng thái S3, máy tính cá nhân đang lặng im với màn hình và quạt
tắt. Ở trạng thái S1, thêm một ít điện được tiêu thụ và quạt vẫn
giữ hoạt động. Một số thiết bị không phù hợp với ACPI và do vậy có
thể không làm việc tốt với trạng thái S3. Máy tính cá nhân sẽ phục
hồi lại hoạt động bình thường từ một trong hai trạng thái trong vòng
5 – 30 giây.


§
Để chọn trạng thái dự phòng ACPI của bạn
trong BIOS


1.
Vào Thiết lập BIOS bằng cách nhấn [F2]
trong khi khởi động.


2.
Vào trình đơn Power.


3.
Bên cạnh Trạng thái Tạm ngưng ACPI, hãy
chọn hoặc S1 State hoặc S3 State.


4.
Thoát ra và lưu các thay đổi [F10].


§
Để cấu hình BIOS để cho Công nghệ RAID của
Intel cho ATA Nối tiếp


1.
Vào chương trình Thiết lập BIOS bằng cách
nhấn <F2> sau khi chức năng kiểm tra bộ nhớ Power-On-Self-Test
(POST) bắt đầu.


2.
Chọn trình đơn Advanced và sau đó trình đơn
Drive Configuration.


3.
Đặt Configure SATA As thành RAID.



4.
Nhấn <F10> để lưu lại các thiết lập
BIOS và thoát ra khỏi chương trình Thiết lập BIOS.











1.5.
Cách setup BIOS


Khi khởi động máy lần đầu tiên, máy tính sẽ đọc một tập
hợp dữ liệu được lưu trong CMOS (một chip bộ nhớ đặc biệt luôn hoạt động nhờ 1
cục pin nhỏ), không có thông tin này máy tính sẽ bị tê liệt. Việc xác lập các
thông tin này gọi là Setup Bios và bao giờ người bán cũng phải làm thủ tục
Setup Bios ngay sau khi ráp máy. Nhưng bạn cũng phải biết cách Setup Bios để đề
phòng trường hợp máy tự mất các thông tin lưu trong Bios vì các lý do như: Hết
pin, nhiễu điện, virus...


Hiện nay, người ta dùng Flash RAM để lưu thông tin Bios
nên không cần phải có Pin nuôi trên mainboard. Tùy Mainboard, các mục trong
Bios có thể khác nhau theo từng hãng chế tạo (Award, Ami, Pheonix...) nhưng về
căn bản chúng vẫn giống nhau và trong phần này chủ yếu bàn về căn bản, còn các
tính năng riêng bạn phải chịu khó tìm hiểu thêm nhờ vào các kiến thức căn bản
này.


Màn hình Bios Setup đa số là màn hình chạy ở chế độ
TEXT. Gần đây đang phát triển loại BiosWin (Ami) có màn hình Setup gồm nhiều
cửa sổ giống tương tự Windows và sử dụng được Mouse trong khi Setup nhưng các
mục vẫn không thay đổi.


Chú ý thao tác để vào Bios Setup là: Bấm phím Del khi mới khởi động
máy đối với máy Ðài Loan. Ðối với các máy Mỹ, thường là bạn phải thông qua
chương trình quản lý máy riêng của từng hãng nếu muốn thay đổi các thông số của
Bios.


v
Bios thường:


Di chuyển vệt sáng để lựa chọn mục bằng các phím mũi
tên. Thay đổi giá trị của mục đang Set bằng 2 phím Page Up và Page Dn. Sau đó
nhấn phím Esc để thoát khỏi mục (giá trị mới sẽ được lưu trữ). Nhấn F10 để
thoát Setup Bios nếu muốn lưu các thay đổi, khi hộp thoại hiện ra, bấm Y để
lưu, N để không lưu. Nhấn Esc nếu muốn thoát mà không lưu thay đổi, khi hộp
thoại hiện ra, bấm Y để không lưu, N để trở lại màn hình Setup Bios.


v
Bios Win:


Màn hình Setup xuất hiện dưới dạng đồ họa gồm nhiều cửa
sổ, sử dụng được mouse nếu bạn có mouse loại: PS/2 mouse, Microsoft mouse,
Serial mouse, Logitect C mouse. Dùng mouse bấm kép vào cửa sổ để mở một thành
phần, bấm vào mục cần thay đổi, một cửa sổ liệt kê giá trị xuất hiện, bấm vào
giá trị muốn chọn rồi thoát bằng cách bấm vào ô nhỏ ở góc trên bên trái. Nếu
không có mouse, dùng các phím mũi tên để di chuyển, đến mục cần thay đổi bấm
Enter, xuất hiện hộp liệt kê, chọn giá trị mới, bấm Enter, cuối cùng bấm Esc.


Thông thường, các nhà
sản xuất đã cố gắng thiết lập sẵn các thông số này gần như là tối ưu và 9dam3
bảo cho hệ thống hoạt động tốt, do đó nếu không thật sự cần thiết thì chúng ta
không nên thay đổi các thông số này. Khi tiến hành cấu hình cho CMOS, ta chỉ
cần quan tâm các thông số thuộc dạng tùy biến trên từng hệ thống. Ví dụ như:
nhận dạng các ổ đĩa, thiết lập thứ các ổ đĩa boot, thiết lập ngày giờ, thiết
lập password, …, các thông số không thuộc dạng tùy biến thì không nên thay đổi.









Các nhà sản xuất khác
nhau sẽ tạo ra các CMOS Setup với giao diện đặc trưng khác nhau. Tuy nhiên các
chức năng và các đề mục là tương đối giống nhau, chủ yếu khác nhau về cách bố
trí chúng trên màn hình CMOS Setup. Khi thiết lập cấu hình cho CMOS, ta cần
quan tâm đến các đề mục và thông số sau:






1.5.1.
Standard CMOS Setup (Setup các thành phần
căn bản)



v Ngày, giờ (Date/Day/Time):


Bạn
khai báo ngày tháng năm vào mục này. Khai báo này sẽ được máy tính xem là thông
tin gốc và sẽ bắt đầu tính từ đây trở đi. Các thông tin về ngày giờ được sử
dụng khi các bạn tạo hay thao tác với các tập tin, thư mục. Có chương trình khi
chạy cũng cần thông tin này, thí dụ để báo cho bạn cập nhật khi quá hạn, chấm
dứt hoạt động khi đến ngày quy định...Bình thường bạn Set sai hay không Set
cũng chẳng nh hưởng gì đến hoạt động của máy. Các thông tin này có thể sửa chữa
trực tiếp ngoài Dos bằng 2 lịnh Date và Time, hay bằng Control Panel của Windows
mà không cần vào Bios Setup.


Chú
ý
: Ðồng hồ máy tính luôn
luôn chạy chậm khong vài giây/ngày, thỉnh thoảng bạn nên chỉnh lại giờ cho
đúng. Nhưng nếu quá chậm là có vấn đề cần phải thay mainboard.











v Ổ đĩa mềm (Drive A/B):


Khai
báo loại ổ đĩa cho ổ A và ổ B, bạn căn cứ vào việc nối dây cho ổ đĩa để xác
định. ổ đĩa nối với đầu nối ngoài cùng của dây nối là ổ A, ổ kia là B. ổ có
kích thước lớn là 1.2M 5.25 inch, ổ nhỏ là 1.44M 3.5 inch. Nếu không có thì
chọn Not Installed. Nếu bạn khai báo sai, ổ đĩa sẽ không hoạt động chớ không hư
hỏng gì, bạn chỉ cần khai báo lại. Trong các mainboard sử dụng Bios đời mới,
khai báo sai loại ổ dĩa 1.2Mb thành 1.4Mb hay ngược lại, ổ dĩa vẫn hoạt động
bình thường nhưng kêu rất lớn lúc mới bắt đầu đọc đĩa, về lâu dài có thể hư
đĩa.


Các
Bios và các card I/O đời mới cho phép bạn tráo đổi 2 ổ đĩa mềm mà không cần
tráo đổi dây (swap floppy drive), tức là ổ A thành ổ B và ngược lại khi sử
dụng. Khi tráo đổi bằng cách Set jumper trên card I/O, bạn nhớ khai báo lại
trong Bios Setup (Khi tráo bằng lịnh Swap trong Bios thì không cần khai báo
lại), nhưng có ứng dụng không chịu cài đặt khi Swap đĩa mềm, nhất là các ứng
dụng có bảo vệ chống sao chép.











v Ổ đĩa cứng (Drive C/D) loại IDE:


Phần
khai báo ổ đĩa cứng rắc rối hơn, bắt buộc bạn phải khai báo chi tiết các thông
số, bạn khai báo sai không những ổ cứng không hoạt động mà đôi khi còn làm hư ổ
cứng nếu bạn khai báo quá dung lượng thật sự của ổ cứng và cho tiến hành FDISK,
FORMAT theo dung lượng sai này.


May
mắn là các Bios sau này đều có phần dò tìm thông số ổ cứng IDE tự động (IDE HDD
auto detection) nên các bạn khỏi mắc công nhớ khi sử dụng ổ đĩa cứng loại IDE. Chúng
ta sẽ nói về phần auto detect này sau.


Ngoài ra, các ổ cứng sau này đều có ghi thông số
trên nhãn dán trên mặt. Bạn cho chạy Auto detect, Bios sẽ tự động điền các
thông số này dùm bạn. Việc khai báo ổ cứng C và D đòi hỏi phải đúng với việc
Set các jumper trên 2 ổ cứng. Bạn xác lập ổ cứng không phải qua đầu nối dây mà
bằng các jumper trên mạch điều khiển ổ cứng. Các ổ cứng đời mới chỉ có một
jumper 3 vị trí: ổ duy nhất, ổ Master (ổ C), ổ Slave (ổ D) và có ghi rõ cách
Set trên nhãn. Các ổ đĩa cứng đời cũ nhiều jumper hơn nên nếu không có tài liệu
hướng dẫn là rắc rối, phải mò mẫm rất lâu.





v Ổ đĩa cứng (Drive E/F) loại IDE:


Các
Bios và các card I/O đời mới cho phép gắn 4 ổ dĩa cứng, vì hiện nay các ổ dĩa
CDROM cũng sử dụng đầu nối ổ cứng để hoạt động, gọi là CDROM Interface IDE
(giao diện đĩa IDE) để đơn giản việc lắp đặt.


Chú ý: Khai báo là NONE trong Bios Setup
cho ổ đĩa CD -ROM.





v Màn
hình (Video) - Primary Display:



§
EGA/VGA:
Dành cho loại màn hình sử dụng card màu EGA hay VGA, Super
VGA.


§
CGA
40/CGA 80: Dành cho loại màn hình sử dụng card màu CGA 40 cột hay CGA 80
cột.


§
Mono:
Dành cho loại màn hình sử dụng card trắng đen, kể c card VGA khi dùng màn hình
trắng đen.





v Treo máy nếu phát hiện lỗi khi khởi động
(Error Halt):



§
Tất
cả lỗi (All error): Treo máy khi phát hiện bất cứ lỗi nào trong quá trình kiểm
tra máy, bạn không nên chọn mục này vì Bios sẽ treo máy khi gặp lỗi đầu tiên
nên bạn không thể biết các lỗi khác, nếu
có.


§
Bỏ
qua lỗi của Keyboard (All, But Keyboard): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của bàn
phím.


§
Bỏ
qua lỗi đĩa (All, But Diskette): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của
đĩa.


§
Bỏ
qua lỗi đĩa và bàn phím (All, But Disk/Key): Tất cả các lỗi ngoại trừ lỗi của ổ
đĩa và bàn phím.


§
Không
treo máy khi có lỗi (No error): Tiến hành quá trình kiểm tra máy cho đến khi
hoàn tất dù phát hiện bất cứ lỗi gì. Bạn nên chọn mục này để biết máy bị trục
trặc ở bộ phận nào mà có phương hướng giải quyết.





v Keyboard:


§
Install:
Cho kiểm tra bàn phím trong quá trình khởi động, thông báo trên màn hình nếu
bàn phím có lỗi.


§
Not Install: Không kiểm tra bàn phím khi khởi
động.


Chú ý: Chọn mục này không có nghĩa là vô hiệu hoá bàn
phím vì nếu vậy làm sao điều khiển máy. Nó chỉ có tác dụng cho Bios khỏi
mất công kiểm tra bàn phím nhằm rút ngắn thời gian khởi động.





1.5.2.
Advanced Setup (Setup các thành phần nâng cao)











v Virut Warning:


Nếu
Enabled, Bios sẽ báo động và treo máy khi có hành động viết vào Boot sector hay
Partition của đĩa cứng. Nếu bạn cần chạy chương trình có thao tác vào 2 nơi đó
như: Fdisk, Format... bạn cần phải Disable mục này.





v Internal
cache:



Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable)
Cache (L1) nội trong CPU 486 trở lên.





v External
cache:



Cho hiệu lực (enable) hay vô hiệu hoá (disable)
cache trên mainboard, còn gọi là Cache mức 2 (L2).





v Quick Power On Self Test:


Nếu
enable Bios sẽ rút ngắn và bỏ qua vài mục không quan trọng trong quá trình khởi
động, để giảm thời gian khởi động tối đa.





v About
1 MB Memory Test:



Nếu Enable Bios sẽ kiểm tra tất cả bộ nhớ. Nếu
Disable Bios chỉ kiểm tra 1 Mb bộ nhớ đầu tiên.





v Memory
Test Tick Sound:



Cho phát âm thanh (enable) hay không (disable)
trong thời gian test bộ nhớ.





v Extended Bios RAM Area:


Khai
báo mục này nếu muốn dùng 1 Kb trên đỉnh của bộ nhớ quy ước, tức Kb bắt đầu từ
địa chỉ 639K hay 0:300 của vùng Bios hệ thống trong bộ nhớ quy ước để lưu các
thông tin về đĩa cứng. Xác lập có thể là 1K hay 0:300.





v Swap Floppy Drive:


Tráo
đổi tên 2 ổ đĩa mềm, khi chọn mục này bạn không cần khai báo lại loại ổ đĩa như
khi tráo bằng cách Set jumper trên card I/O.





v Boot Sequence:


Chọn
ổ đĩa cho Bios tìm hệ điều hành khi khởi động. Có thể là C rồi đến A hay A rồi
đến C hay chỉ có C. Bạn nên chọn C,A hay chỉ có C, để đề phòng trường hợp vô
tình khởi động bằng đĩa mềm có Virus.


Hiện nay trên các Mainboard Pentium. Bios cho
phép bạn chỉ định khởi động từ 1 trong 2 ổ mềm hay trong 4 ổ cứng IDE hay bằng
ổ cứng SCSI thậm chí bằng ổ CD ROM cũng được.











v Boot
Up Floppy Seek:



Nếu Enable Bios sẽ dò tìm kiểu của đĩa mềm là 80
track hay 40 track. Nếu Disable Bios sẽ bỏ qua. Chọn enable làm chậm thời gian
khởi động vì Bios luôn luôn phải đọc đĩa mềm trước khi đọc đĩa cứng, mặc dù bạn
đã chọn chỉ khởi động bằng ổ C.





v Boot Up Numlock Status:


Nếu
ON là cho phím Numlock mở (đèn Numlock sáng) sau khi khởi động, nhóm phím bên
tay phải bàn phím dùng để đánh số. Nếu OFF là cho phím Numlock tắt (đèn Numlock
tối), nhóm phím bên tay phải dùng để di chuyển con trỏ.





v Boot
Up System Speed:



Quy
định tốc độ của CPU trong thời gian khởi động là High (cao) hay Low (thấp).





v Memory
Parity Check:



Kiểm
tra chẵn lẻ bộ nhớ. Chọn theo mainboard vì có loại cho phép mục này enable, có
loại bắt bạn phải disable mới chịu chạy. Ðầu tiên bạn chọn enable, nếu
máy treo bạn chọn lại là disable. Mục này không ảnh hưởng đến hệ thống, chỉ có
tác dụng kiểm tra RAM.





v IDE HDD Block Mode:


Nếu ổ
đĩa cứng của bạn hỗ trợ kiểu vận chuyển dữ liệu theo từng khối (các ổ đĩa đời
mới có dung lượng cao). Bạn cho enable để tăng tốc cho ổ đĩa. Nếu ổ đĩa
đời cũ bạn cho disable mục này.





v Pri. Master/Slave LBA (Logic Block
Addressing) Mode:



Nếu 2
ổ đĩa cứng được nối vào đầu nối Primary của card I/O có dung lượng lớn hơn
528Mb, bạn cho enable mục này.





v Sec. IDE Ctrl Drives Install:


Mục này
để khai báo máy bạn có ổ đĩa cứng nối vào đầu nối Secondary của card I/O. Các
chỉ định có thể là Master, Mst/Slv và disable.





v Sec
Master/Slave LBA Mode:



Xác
lập LBA cho đầu nối thứ 2.


Chú ý: Các mục hỗ trợ cho ổ đĩa cứng có
dung lượng lớn và các card I/O đời mới giúp bạn sử dụng ổ đĩa có dung lượng
trên 528Mb. Trong trường hợp bạn cho enable các mục này rồi mới tiến hành Fdisk
và Format đĩa, nếu sau đó bạn lại disable các mục này hay đem gắn qua máy khác
cũng chọn disable, bạn sẽ không thể sử dụng được ổ dĩa cứng. Khi dùng ổ CDROM
có đầu nối IDE, bạn nên gắn vào đầu nối Secondary để khỏi ảnh hưởng đến ổ dĩa
cứng (gắn vào đầu nối Pri) khi cần chạy 32BitDiskAccess trong Windows.





v Typematic Rate Setting:


Nếu
enable là bạn cho 2 mục dưới đây có hiệu lực. 2 mục này thay thế lịnh Mode của
DOS, quy định tốc độ và thời gian trể của bàn phím.





v Typematic Rate (Chars/Sec):


Bạn
lựa chọn số ký tự/giây tuỳ theo tốc độ đánh phím nhanh hay chậm của bạn. Nếu
bạn Set thấp hơn tốc độ đánh thì máy sẽ phát tiếng Bip khi nó chạy theo không kịp.





v Typematic Delay (Msec):


Chỉ
định thời gian lập lại ký tự khi bạn bấm và giữ luôn phím, tính bằng mili giây.





v Security Option:


Mục này
dùng để giới hạn việc sử dụng hệ thống và Bios
Setup.


Setup: Giới hạn việc thay đổi Bios Setup, mỗi
khi muốn vào Bios Setup bạn phải đánh đúng mật khẩu đã quy định
trước.


System hay Always: Giới hạn việc sử dụng máy.
Mỗi khi mở máy, Bios luôn luôn hỏi mật khẩu, nếu không biết mật khẩu Bios sẽ
không cho phép sử dụng máy.


Chú ý: Trong trường hợp bạn chưa chỉ định
mật khẩu, để Disable (vô hiệu hoá) mục này, bạn chọn Password Setting, bạn đừng
đánh gì vào các ô nhập mật khẩu mà chỉ cần bấm ENTER. Trong trường hợp bạn đã
có chỉ định mật khẩu nay lại muốn bỏ đi. Bạn chọn Password Setting, bạn đánh
mật khẩu cũ vào ô nhập mật khẩu cũ (Old Password) còn trong ô nhập mật khẩu mới
(New Password) bạn đừng đánh gì cả mà chỉ cần bấm ENTER. Có mainboard thiết kế
thêm 1 jumper để xoá riêng mật khẩu ngoài jumper để xoá toàn bộ thông tin trong
CMOS. Tốt hơn hết là bạn đừng sử dụng mục này vì bản thân chúng ta chứng kiến
rất nhiều trường hợp dở khóc dở cười do mục này gây ra. Lợi ít mà hại nhiều.
Chỉ những máy tính công cộng mới phải sử dụng tới mục này thôi.





v System Bios Shadow, Video Bios Shadow:


Nếu
enable là cho copy các dữ liệu về System và Video trong Bios (có tốc độ chậm)
vào RAM (tốc độ nhanh) để rút ngắn thời gian khi cần truy nhập vào các dữ liệu này.





v Wait
for <F1> if Any Error:



Cho
hiện thông báo chờ ấn phím F1 khi có lỗi.





v Numeric
Processor:



Thông
báo có gắn CPU đồng xử lý (Present) trên máy hay không (absent). Mục này thường
có cho các máy dùng CPU 286, 386, 486SX. Từ 486DX trở về sau đã có con đồng xử
lý bên trong CPU nên trên các máy mới có thể không có mục này.





v Turbo
Switch Funtion:



Cho nút Turbo có hiệu lực (enable) hay không
(disable). Mục này thường thấy ở các Bios đời củ, trên các máy đời mới lựa chọn
này thường bằng cách Set jumper của Mainboard. Từ Mainboard pentium trở đi
không có mục này.





1.5.3.
Chipset Setup (Setup các thành phần có liên quan đến vận hành hệ
thống)












v Auto
Configuration
:


Nếu enable,
Bios sẽ tự động xác lập các thành phần về DRAM, Cache...mỗi khi khởi động tùy
theo CPU Type (kiểu CPU) và System Clock (tốc độ hệ thống). Nếu Disable là để
cho bạn tự chỉ định.





v AT Clock Option:


Nếu Async
(không đồng bộ) là lấy dao động chuẩn của bộ dao động thạch anh chia đôi làm
tốc độ hoạt động cho AT Bus (bus 8 - 16Bit). Thường là 14.318MHz/2 tức
7.159MHz. Có Bios còn cho chọn tốc độ của mục này là 14.318MHz. Nếu Sync (đồng
bộ) là dùng System Clock (do bạn chỉ định bằng cách Set jumper trên mainboard)
làm tốc độ chuẩn.





v Synchronous
AT Clock/AT Bus Clock Selector:



Chỉ định
tốc độ hoạt động cho AT Bus bằng cách lấy tốc độ chuẩn (system clock) chia nhỏ
để còn lại khoảng 8MHz cho phù hợp với card 16Bit. Các lựa chọn như
sau:


§
CLKI/3 khi system clock là 20 -
25MHz.


§
CLKI/4 khi system clock là
33MHz.


§
CLKI/5 khi system clock là
40MHz.


§
CLKI/6 khi system clock là
50MHz.


Tốc
độ này càng lớn (số chia càng nhỏ), máy chạy càng nhanh do tăng tốc độ vận
chuyển dữ liệu. Tuy nhiên lớn đến đâu là còn tùy thuộc vào mainboard và
card cắm trên các Slot (quan trọng nhất là card I/O). Các bạn phải thí nghiệm
giảm số chia từng nấc và chú ý máy có khởi động hay đọc đĩa bình thường không,
nếu phát sinh trục trặc thì giảm xuống 1 nấc.


Thường thì bạn có thể tăng được 2 nấc, thí dụ:
System clock là 40MHz, bạn chọn CLKI/3. Card ISA 8 và 16 Bit có thể chạy tốt
trong khoảng từ 8MHz đến 14MHz. Nếu nhanh quá, thường card I/O gặp trục trặc
trước (không đọc được đĩa cứng).





v AT
Cycle Wait States/Extra AT Cycle WS:



Ðể enable hay disable việc chèn thêm 1 thời gian chờ
vào thời gian chuẩn của AT Bus. Nếu system clock dưới 33MHz chọn disable. Nếu
trên 33MHz chọn enable.





v Fast
AT Cycle:



Khi enable sẽ rút ngắn thời gian chuẩn của AT Bus.





v DRAM Read Wait States/DRAM Brust Cycle:


§
Dưới
33MHz là: 3 - 2 - 2 - 2 hay 2 - 1 - 1 - 1


§
Từ 33
- 45MHz là: 4 - 3 - 3 - 3 hay 2 - 2 - 2 - 2


§
50MHz
là: 5 - 4 - 4 - 4 hay 3 - 2 - 2 - 2


Chọn mục này ảnh hưởng lớn đến tốc độ CPU.





v DRAM/Memory
Write Wait States:



Chọn 1WS khi
hệ thống nhanh hay DRAM chậm (tốc độ 40MHz trở lên). Chọn 0WS khi hệ thống và DRAM
có thể tương thích (33MHz trở xuống).





v Hidden Refresh Option:


Khi enable, CPU
sẽ làm việc nhanh hơn do không phải chờ mỗi khi DRAM được làm tươi.





v
Slow
Refresh Enable:



Mục này nhằm
bảo đảm an toàn dữ liệu trên DRAM, thời gian làm tươi sẽ kéo dài hơn bình
thường. Bạn chỉ được enable mục này khi bộ nhớ của máy hỗ trợ việc cho phép làm
tươi chậm.





v L1
Cache Mode:



Lựa chọn giữa Write-Through và Write-Back cho Cache nội
trong CPU 486 trở lên. Xác lập Write-Through máy sẽ chạy chậm hơn Write-Back
nhưng việc lực chọn còn tuỳ thuộc vào loại CPU.





v L2
Cache Mode:



Xác
lập cho cache trên mainboard.





v IDE HDD Auto Detection/IDE SETUP:


Khi chọn mục
này sẽ xuất hiện một cửa sổ cho bạn chỉ định ổ đĩa cần dò tìm thông số (2 hay 4
ổ đĩa tuỳ theo Bios). Sau đó bạn bấm OK hay YES để Bios điền vào phần
Standard dùm cho bạn. Trong Bios đời mới, Auto detect có thể đưa ra vài loại ổ
đĩa. Tuỳ theo cách sử dụng ổ dĩa (normal, LBA,...) mà bạn chọn loại thích hợp.





v Power Management
Setup:



§
Ðối
với CPU 486:
Phần
này là các chỉ định cho chương trình tiết kiệm năng lượng sẵn chứa trong các
Bios đời mới. Chương trình này dùng được cho cả 2 loại CPU: Loại thường và loại
CPU kiểu S. CPU kiểu S hay CPU có 2 ký tự cuối SL là một loại CPU được chế tạo
đặc biệt, có thêm bộ phận quản lý năng lượng trong CPU. Do đó trong phần này có
2 loại chỉ định dành cho 2 loại CPU.


§
Ðối
với Pentium:
Dùng
chung cho mọi loại Pentium hay các chíp của các hảng khác cùng đời với Pentium.





v Power
Management/Power Saving Mode:



§
Disable: Không sử dụng chương trình này.


§
Enable/User Define: Cho chương trình này có hiệu
lực.


ü
Min
Saving: Dùng các giá trị thời gian dài nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm năng
lượng ít nhất).


ü
Max
Saving: Dùng các giá trị thời gian ngắn nhất cho các lựa chọn (tiết kiệm nhiều
nhất).





v Pmi/Smi:


Nếu chọn SMI
là máy đang gắn CPU kiểu S của hãng Intel. Nếu chọn Auto là máy đang gắn CPU
thường.





v Doze Timer:


Mục này chỉ
dùng cho CPU kiểu S. Khi đúng thời gian máy đã rảnh (không nhận được tín hiệu
từ các ngắt) theo quy định, CPU tự động hạ tốc độ xuống còn 8MHz. Bạn chọn thời
gian theo ý bạn (có thể từ 10 giây đến 4 giờ) hay disable nếu không muốn sử
dụng mục này.





v Sleep Timer/Standby timer:


Mục này chỉ
dùng cho CPU kiểu S. Chỉ định thời gian máy rảnh trước khi vào chế độ Sleep
(ngưng hoạt động). Thời gian có thể từ 10 giây đến 4 giờ.





v Sleep Clock:


Mục này chỉ
dùng cho CPU kiểu S: Stop CPU hạ tốc độ xuống còn 0MHz (ngưng hẳn). Slow
CPU hạ tốc độ xuống còn 8MHz.





v HDD
Standby Timer/HDD Power Down:



Chỉ
định thời gian ngừng motor của ổ đĩa cứng.





v CRT Sleep:


Nếu Enable là màn hình sẽ tắt khi máy vào
chế độ Sleep.





v Chỉ định:


Các chỉ định
cho chương trình quản lý nguồn biết cần kiểm tra bộ phận nào khi chạy.


Chú ý:
Do Bios được sản xuất để sử dụng cho nhiều loại máy khác nhau nên các bạn luôn
luôn gặp phần này trong các Bios. Thực ra chúng chỉ có giá trị cho các máy xách
tay (laptop) vì xài pin nên vấn đề tiết kiệm năng lượng được đặt lên hàng đầu. Chúng
ta khuyên các bạn đang sử dụng máy để bàn (desktop) nên vô hiệu hoá tất cả các
mục trong phần này, để tránh các tình huống bất ngờ như: đang cài chương trình,
tự nhiên máy ngưng hoạt động, đang chạy Defrag tự nhiên máy chậm cực kỳ...





1.5.4.
Peripheral
Setup (Phần dành riêng cho Mainboard theo chuẩn giao tiếp PCI có I/O và IDE On
Board)



v PCI On Board IDE:


Cho
hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) 2 đầu nối ổ đĩa cứng IDE trên mainboard.
Khi sử dụng Card PCI IDE rời, ta cần chọn disabled.











v PCI
On Board Secondary IDE:



Cho
hiệu lực (enabled) hay vô hiệu (disabled) đầu nối ổ đĩa ứng IDE thứ 2 trên
mainboard. Mục này bổ sung cho mục trên và chỉ có tác dụng với đầu nối thứ 2.





v PCI
On Board Speed Mode:



Chỉ định kiểu vận chuyển dữ liệu (PIO speed
mode). Có thể là Disabled, mode 1, mode 2, mode 3, mode 4, Auto. Trong đó mode
4 là nhanh nhất.





v PCI Card Present on:


Khai
báo có sử dụng Card PCI IDE rời hay không và nếu có thì được cắm vào Slot nào. Các
mục chọn là: Disabled, Auto, Slot 1, Slot 2, Slot 3, Slot 4.





v PCI
IRQ, PCI Primary IDE IRQ, PCI Secondary IDE IRQ:



Chỉ
định cách xác lập ngắt cho Card PCI IDE
rời.


Chú ý: Trong mục này có phần xác lập thứ
tự gán ngắt cho các Card bổ sung. Thí dụ: 1 = 9, 2 = 10, 3 = 11, 4 = 12 có
nghĩa là Card đầu tiên cắm vào bất kỳ Slot nào sẽ được gán ngắt 9, nếu có 2
Card thì Card cắm vào Slot có số thứ tự nhỏ sẽ được gán ngắt 9, Slot có số thứ
tự lớn sẽ được gán ngắt 10.v..v...





v IDE 32Bit Transfers Mode:


Xác
lập này nhằm tăng cường tốc độ cho ổ đĩa cứng trên 528Mb, nhưng cũng có ổ đĩa
không khởi động được khi enabled mục này dù fdisk và format vẫn bình thường.





v Host to PCI Post Write W/S


Host
to PCI Burst Write[/b:5a4
Về Đầu Trang Go down
nhoklove
Member
Member
avatar

Tổng số bài gửi : 6
Tổng Số Điểm : 16
Ngày Tham Gia : 07/10/2010

Bài gửiTiêu đề: Re: TÌM HIỂU VỀ BIOS VÀ CMOS   Mon Dec 27, 2010 6:37 am

1.6.
Nâng
cấp BIOS



1.6.1.
Tại
sao phải nâng cấp BIOS?



BIOS cũng là một phần mềm, nên thường xuyên được các nhà
sản xuất nâng cấp để sửa chữa các lỗi mắc phải, hoặc hỗ trợ các thiết bị phần
cứng mới. Bạn nên thường xuyên nâng cấp BIOS của hệ thống bằng các phiên bản
mới của nhà sản xuất. Ví dụ, đối với các loại máy có BIOS chỉ hỗ trợ đĩa cứng
có dung lượng nhỏ hơn 8GB, khi muốn cài thêm các ổ đĩa IDE (Integrate Driver
Electronics) lớn và nhanh hơn hoặc ổ mềm LS-120 (120MB), bạn phải nâng cấp
BIOS.



Những vấn đề có thể khắc phục được
khi nâng cấp BIOS:



1.
Hỗ trợ cho các ổ mềm LS-120.


2.
Hỗ trợ cho các loại ổ cứng lớn hơn 8GB.


3.
Hỗ trợ cho các ổ cứng Utra-DMA/33 IDE


4.
Hỗ trợ cho các ổ CD-ROM ATAPI có thể khởi động được.


5.
Khắc phục sự cố Y2K.


6.
Sửa những lỗi kỹ thuật hoặc những vấn đề tương thích giữa phần cứng và
phần mềm.



7.
Hỗ trợ cho các loại CPU mới.


Nếu khi cài đặt một
phần cứng hoặc phần mềm mới, bạn đã thực hiện đúng tất cả những chỉ dẫn, nhưng
hệ thống hoặc phần mềm vẫn không hoạt động được. Vấn đề có thể là bạn cần phải
nâng cấp BIOS. Các hệ điều hành mới rất
hay gặp phải vấn đề này. Ví dụ, nhiều hệ thống cần nâng cấp BIOS để tương thích
với tính năng Plug and Play của win95, win98, win2000. Tuy nhiên, trường hợp
này tùy thuộc vào từng loại mainboard. Bạn nên theo dõi thương xuyên các thông
báo về lỗi mà nhà sản xuất đã sửa trên các trang web của họ.



Khi cần nâng cấp
BIOS, bạn phải liên hệ với nhà sản xuất mainboard hoặc download từ các trang
web của họ. Các nhà sản xuất BIOS không đưa ra các bản nâng cấp này, vì BIOS trên
các mainboard thực sự không còn là BIOS của họ nữa, nó đã được điều chỉnh để
tương thích với mainboard của nhà sản xuất mainboard.



Riêng đối với Phoenix và Award, nếu
không tìm thấy các bản nâng cấp từ nhà sản xuất mainboard hoặc không có ngoài
thị trường, bạn có thể liên hệ với Unicore là công ty chuyên cung cấp các bản
nâng cấp BIOS Award. Ngoài ra các công ty như MicroFirmWare hoặc MicroiResearch
thường có sẵn các bản nâng cấp BIOS cho các mainboard cũ, thêm vào một số tính
năng mới mà nhà sản xuất đã không còn quan tâm.



Khi tìm kiếm bản nâng
cấp BIOS cho các mainboard, bạn cần lưu ý các thông tin sau:



1.
Kiểu chế tạo và model của mainboard.


2.
Phiên bản (version) của BIOS.


3.
Kiểu CPU (Pentium MMX, AMD K6, CYRIX ABM, MII, PENTIUM). Bạn có thể
xem các thông tin này khi hệ thống khởi động trong vài giây đầu tiên.



Để nhìn thấy rõ các
thông tin này, bạn chỉ cần nhấn phím Pause trên bàn phím khi chúng vừa xuất
hiện, để tạm ngưng quá trình POST. Sau đó, nhấn phím bất kì để tiếp tục quá
trình POST. Khi đã xác định xong các thông tin cần thiết, bạn có thể tìm một
phiên bản BIOS thích hợp để nâng cấp cho hệ thống.



Khi nâng cấp BIOS
mainboard, những thông số được thiếp lập trong CMOS RAM sẽ bị xóa sạch. Vì thế
bạn nên lưu lại những thông số này. Đặc biệt là những thông số quan trọng như
các thông số về ổ đĩa.



Một số chương trình
tiện tích có thể giúp sao lưu CMOS như Norton Utility. Nhưng khi nâng cấp BIOS,
vùng dữ liệu lưu trữ trong CMOS RAM sẽ bị thay đổi, bạn sẽ không phục hồi chính
xác dữ liệu cũ được. Tốt nhất bạn nên ghi lại những thông số quan trọng của
CMOS hoặc in những thông tin này bằng cách nối máy in với hệ thống và nhấn phím
Print Screen.






1.6.2.
Sử dụng Flash BIOS


Từ năm 1996, các PC dùng FlashROM để lưu trữ BIOS. FlashROM là chip EEPROM
(Electrically Erasasle Programnable Read Only Memory). Đối với chip này, bạn có
thể xóa, lập trình trực tiếp trên hệ thống mà không cần một thiết bị đặc biệt
nào. Ví dụ, đối với loại EPROMS, cần phải có nguồn tia cực tím và một thiết bị
lập trình EPROM để xóa và lập trình nó, với FlashROM, bạn có thể xóa, ghi mà
không cần phải tháo ra khỏi hệ thống.



Bạn
có thể download các bản nâng cấp BIOS từ website của nhà sản xuất mainboard.
Thông thường các bản nâng cấp này sẽ được đính kèm một tiện ích dùng để tạo đĩa
mềm khởi động. Bạn phải thực hiện quá trình nâng cấp từ đĩa mềm khởi động, vì
khi khởi động từ đĩa cứng, các phần mềm và driver chạy trong máy có thể gây trở
ngại cho quá trình nâng cấp. Một số FlashROM trong hệ thống bị cài ở chế độ
chống ghi. Vì thế, trước khi nâng cấp BIOS, bạn phải gỡ bỏ thuộc tính chống ghi
của FlashROM. Cách thay đổi thuộc tính thông thường là thay đổi jumper và
switch điều khiển tần số trên ROM.



Nếu
không có chế độ bảo vệ ghi, một chương trình virus có thể tự nhân bản và ghi
vào ROM BIOS trong hệ thống. Ngày nay, các loại FlashROM hiện đại có một giải
thuật ngăn việc nâng cấp các phiên bản BIOS không rõ xuất xứ, mainboard intel
đã sử dụng kỹ thuật này.



Công
việc đầu tiên để nâng cấp BIOS sau khi đã download file BIOS mới là bạn phải
vào CMOS Setup, ghi lại giá trị của tất cả các thông số đang có. Sau đó tạo một
đĩa mềm khởi động từ DOS và chép tất cả các file đó vào đĩa mềm khởi động vừa
tạo. Khởi động lại máy bằng đĩa mềm đó, và làm theo các hướng dẫn. Sau đây là
từng bước cụ thể:



1. Lưu cấu hình cài đặt CMOS RAM: vào
CMOS Setup, ghi lại giá trị các thông số CMOS hiện hành. Nếu có máy in, bạn có
thể dùng phím Print Screen trên bàn phím để in toàn bộ màn hình. Sau khi nâng
cấp BIOS, bạn sẽ phải thiết lập lại các thông số này.



2. Thoát khỏi CMOS Setup và cho hệ
thống khởi động lại đến dấu nhắc DOS (khởi động bằng đĩa mềm hoặc CD).



3. Cho đĩa mềm mới vào ổ đĩa mềm và
định dạng ó bằng lệnh:



Format
A:/s



4. Giả sử file download từ website là
SETBIOS04.exe (cho mainboard SE440BX) được chứa trong thư mục C:\TEMP và nhập
vào dòng lệnh sau:



C:\TEMP>SETBIOS04


5. Tiếp theo chạy lệnh:


C:\TEMP>BIOS
A:



6. Khởi động lại hệ thống bằng đĩa
mềm vừa tạo ở trên, lúc này chương trình Flash sẽ tự động khởi động. Nhấn Enter
khi xuất hiện dấu nháy.



7. Chọn Save Flash Memory Area to a
file và nhấn Enter.



8. Nhập tên file sau dấu nháy và nhấn
Enter, việc này sẽ tạo ra một bản sao lưu BIOS (rất cần thiết lúc BIOS mới gây
ra sự cố).



9. Chọn Update Flash Memory Area to a
file và nhấn Enter.



10. Chọn tên của file dùng để nâng cấp
FlashROM, sau đó nhấn Enter.



11. Nhấn Enter để tiếp tục. Quá trình
nâng cấp mất khoảng 3 phút tùy theo tốc độ xử lý của từng hệ thống. Bạn không
được ngắt quá trình này, nếu không Flash BIOS sẽ bỉ hỏng. Do đó, khi nâng cấp
BIOS, bạn nên chọn thời điểm thích hợp để không bị mất điện khi đang xử lý, tốt
nhất là nên có một bộ lưu điện UPS để đảm bảo an toàn cho hệ thống.



12. Khi nhận được thông báo BIOS 9da4
nạp thành công, lấy đĩa mềm khởi động ra và nhấn Enter để khởi động lại hệ
thống.



13. Truy xuất CMOS Setup, tại màn hình
chính của CMOS Setup, kiểm tra xem version của BIOS có phải là version mới
không.



Trong
trình CMOS Setup, chọn Load Setup Default và nhấn Enter. Nếu không thiết lập
lại các giá trị về lại mặc định, hệ thống có thể gây ra lỗi.






1.6.3.
Phục hồi Flash ROM


Khi
nâng cấp FlashROM, bạn sẽ nhận được thông điệp sau: The Bios is currently being
update. DO NOT REBOOT OR POWER DOWN until the update complete (typically within
three minutes).



Nếu
có một sai sót nào đó xảy ra trong quá trình nâng cấp, BIOS của hệ thống sẽ bị
lỗi. Nghiêm trọng hơn, bạn có thể không thể khởi động lại hệ thống và không thể
sửa chữa được các hư hỏng trong BIOS. Tùy thuộc vào loại mainboard, có thể bạn
phải thay một FlashROM khác tương tự đã được lập trình sẵn.



Tuy
nhiên, các FlashROM thường không được bán lẻ, hoặc giá thành khá cao, hơn nữa
việc lập trình cho FlashROM không phải là chuyện dẽ dàng, đôi khi chí phí cho
quá trình thay FlashROM có thể cao hơn giá thành của một mainboard mới. Do đó,
khi gặp sự cố, thì cách tốt nhất là bạn nên mua một mainboard mới.



Trong
các hệ thống ngày nay, FlashROM đã bị hàn vào trong mainboard, chúng ta không
thể thay thế nó được, nhưng có cách thức đặc biệt để phục hồi lại BIOS bị hỏng
(không phải thay mainboard): trên FlashROM, có một phần đặc biệt dùng cho mục
đích này. Nếu quá trình nâng cấp FlashROM bị ngắt khi đang xử lý, BIOS sẽ không
hoạt động được nữa. Bạn có thể thực hiện theo những bước sau để phục hồi lại
BIOS.



Điều
kiện cần có: nguồn cung cấp nhỏ, speaker, một đĩa mềm đã được cấu hình sẵn
tương ứng với mainboard.



1.
Chuyển jumper của FlashROM sang chế độ Recovery (phục hồi). Tất cả các
mainboard của Intel cũng như các hãng khác đều có một jumper dùng để phục hồi
BIOS. Thông thường jumper này có 2 tùy chọn là Recovery và Normal.



2.
Đặt đĩa mềm có thể khởi động được và có chứa file sao lưu của BIOS vào
ổ đĩa mềm rồi khởi động hệ thống.



Khi
thực hiện, màn hình không hiển thị gì cả và bạn cũng không thấy dấu nhắc hướng
dẫn nào. Tuy nhiên chúng ta có thể theo dõi tiếng trình bằng cách nghe các
tiếng beep phát ra từ speaker và tín hiệu đèn LED ở ổ đĩa mềm. Khi hệ thống
phát ra tiếng beep và tín hiệu đèn LED ở ổ đĩa mềm sáng tức là các mã BIOS đang
được copy vào trong FlashROM.



3.
Khi tiến trình hoàn thành, đèn LED ở ổ đĩa mềm và nguồn của hệ thống
sẽ tắt.



4.
Chuyển jumper của FlashROM về lại vị trí của chế độ Normal.


5.
Khi nguồn hệ thống hoạt động trở lại, bạn có thể tiến hành nâng cấp
lại BIOS.









1.6.4.
Sử dụng IML system partition BIOS


Trong các hệ thống 486 và Pentium cũ, IBM và Compaq đã sử
dụng một cơ chế tương tự như FlashROM, gọi là Microcode Load (IML). Trong kỹ
thuật này, mã BIOS được cài trong một partition hệ thống ẩn đặc biệt trên đĩa
cứng và sẽ được nạp mỗi khi hệ thống khởi động. Tất nhiên phần nhân BIOS của hệ
thống vẫn chứa trên mainboard, nhưng hầu hết các chương trình BIOS nằm trên
partition hệ thống này. Với kỹ thuật này, Compaq và IBM có thể cung cấp các bản
chương trình cập nhật ROM bằng cách cài nó vào partition hệ thống trên đĩa
cứng.



Tuy nhiên, kỹ thuật này có mặt hạn chế. Nếu hệ thống
không kết nối đúng ổ đĩa đã cài đặt mã BIOS thì nó sẽ hoạt động không đúng. Bạn
không thể khởi động hệ thống từ một đĩa mềm khởi động chuẩn khác.



Chú ý: Cơ chế này gây khó khăn cho
quá trình nâng cấp đĩa cứng. tốt nhất, bạn không nên mua các hệ thống sử dụng
cơ chế IML BIOS, vì có rất ít sự hỗ trợ cho các cấu hình loại này.






1.7. Sự cố và khắc phục sự cố


1.7.1.
Lỡ quên
password của CMOS



Password của CMOS cho phép bảo mật hệ thống, chống lại mọi xâm nhập
không cần thiết.tuy nhiên,chính tính năng bảo mật này đôi khi gây khó khăn nếu
bạn lỡ quên password.Khi đó bạn không thể truy cập vào CMOS setup để thiết lập
các thông số cần thiết.Mặc dù các nhà sản xuất cũng chú ý đến các vấn đề này,
nên đã cung cấp một số tiện ích để giải quyết như sau:


v
Sử dụng jumper hoặc dipswitch


1.
Tắt máy và ngắt nguồn điện.


2.
Tháo nắp dây thùng máy.


3.
Tìm jumper hoặc dipswitch xóa password CMOS và thay đổi
vị trí của nó.


4.
Cấp nguồn và khởi động lại máy,lúc này password CMOS sẽ
bị xóa.


5.
Tắt máy và chuyển jumper hoặc disswitch về vị trí cũ.


6.
Đóng thùng máy ,cấp nguồn và khởi động bình thường.


Cách làm tuy đơn giản nhưng bạn có thể gặp khó khăn trong việc xác lập
jumper hay dipswitch có chức năng xóa password.Vị trí của jumper và dipswitch
trên mỗi loại main là hoàn khác nhau,việc xác định sai jumper có thể dẫn đến
hậu quả nghiêm trọng.Bạn có thể xem sách hướng dẫn kèm theo mainboard để biết
vị trí về jemper hay dipswitch có chức năng này sẽ được gán nhãn như
clear,clear CMOS,clr,clrpwd,passwd,password,pwd.





v
Tháo pin CMOS


1.
Tắt máy và ngắt nguồn điện.


2.
Tháo nắp đậy thùng máy .


3.
Tìm và tháo pin CMOS ra khỏi mainboard và chờ khoảng 10
phút để máy mất hết thông tin về CMOS.


4.
Lắp pin vào ,đóng nắp thùng lại và, cấp nguồn và khời
động lại máy bình thường .


Cách làm này có khuyết điểm là có thể nó sẽ không phát huy tác dụng trên
một số máy tính.Mặt khác , sau khi xóa hết thông tin trong CMOS ,bios sẽ sử
dụng lại thông số mặc định,khi đó bạn phải thiết lập lại những thông số cần
thiết như trước khi xóa CMOS để hệ thống có thể hoạt động như cũ.





v
Sử dụng
một số password mặc định



Các nhà sản xuất thường cung cấp một số password mặc định
của mainboard ,bạn có thể truy cập CMOS
setup bằng password này mà không cần quan tâm đến password đã thiết lập trước
đó.Tuy nhiên,việc xác định được password mặc định của mainboard không phải là
chuyện đơn giản.Bạn có thể vào web site của các nhà sản xuất mainboard để tìm
hiểu các password mặc định của CMOS.Sử dụng các chương trình dò tìm password CMOS
nếu password CMOS vẫn không cho phép vào điều hành,bạn có thể tìm một số chương
trình tiện ích để dò tìm password CMOS
hiện nay có rất nhiều chương trình thực hiện chức năng này, bạn có thể tìm trên
thị trường hoặc tải về từ internet.





1.7.2.
Các mã bip
của các loại bios









Hình.
AMI BIOS beep codes





1.
1
tiếng bip dài


kiểm tra hệ
thống đạt yêu cầu và có thể bắt đầu khởi động.sau tiếng bipnay, bạn dẽ thất tất
cả các thông số của hệ thống đước hiện thị trên màn hình.1 tiếng bip ngắn:
không thể làm tươi bộ nhớ RAM.Có thể do bộ định giờ hay bộ điều khiển trên
mainboard bị lỗi.bạn phải thay chip trên mainboard hay thay mainboard mới.





2.
2
tiếng bip


Đây là lỗi
phần cứng rất khó phát hiện , bạn phải tiến hành kiểm tra tuần tự các thành
phần của hệ thống để xác định thành phần nào có vấn đề. Trước hết bạn kiểm tra
card màn hình bằng vách gắn vào hệ thống khác hay dung thiết bị chuyên dụng để
kiểm tra. Nếu màn hình hoạt động tốt thì bạn xem thông báo lỗi trên màn hình
không để khắc phục. Nếu màn hình không có lỗi gì thì có thể do lỗi RAM. Bạn thử
cắm lại RAM.


Đây là một
lỗi chẵn lẻ (parity error) nằm ở 64k đầu tiên của RAM.bạn thử cắm lại RAM và khởi
động lại nếu vẫn có lỗi thì đổi sang khe cắm khác. khởi động lại nếu vẫn có lỗi
thì nguyên nhân là có thể do chip trên RAM bị hư, bạn phải thay RAM mới. Trường
hợp máy phát ra 2 tiếng bip ngắn mà màn hình không lên thì cò thể một trong
những thiết bị phần cứng bị hư(mainboard, card màn hình…), tốt nhất là bạn đưa
đến các trung tâm bảo hành, họ sẽ kiể tra chính xác thiết bị nào bị hư.





3.
3 tiếng
bip ngắn


Về cơ bản giống với trường
hợp 2 tiếng bip, lỗi xảy ra ở 64k đầu tiên của RAM,có thể chip RAM bị hư.





4.
4 tiếng bip ngắn


Về cơ bản giống với trường hợp 2 tiếng bip, có thể lỗi xảy ra ở những ô
nhớ đầu tiên của RAM. Tuy nhiên lỗi này có thể do bộ định giờ hệ thống bị hỏng,
khi đó bạn phải thay mainboard mới.





5.
5 tiếng bíp ngắn


Lỗi CPU, bạn
phải thay CPU.





6.
6 tiếng bíp ngắn


Lỗi bàn phím bạn hãy cắm lại đầu nối bàn phím hay thay bàn phím khác.
Nếu vẫn như cũ thì do chip đều khiển bàn phím trên mainboard bị hỏng, hoặc chân
cắm bàn phím trên mainboard bị hỏng bạn phải thay mainboard.





7.
7 tiếng bip ngắn


CPU hoặc mainboard bị hư và bạn phải mang đến các trung tâm bảo hành, và
hư cái nào thì bạn phải thay cái đó.





8.
8 tiếng bip ngắn


Lỗi card màn hình ,bạn thử cắm lại, nếu
lỗi vẫn như cũ thì có thể card màn hình bị hỏng hoặc chip nhớ trên card
bị lỗi, bạn phải thay card màn hình khác.





9.
9 tiếng bip ngắn


ROM bios bị hỏng.bạn phải thay một RAM bios khác tốt nhất là thay
mainboard mới.





10.
10 tiếng bip


Lỗi CMOS. Cách tốt nhất là bạn thay mainboard khác.





11.
11 tiếng bip ngắn


Bộ đệm (cach) L2 bị lỗi. Cach này nằm trên mainboard, do đó nếu lỗi xảy
ra thì bạn phải thay mainboard khác.





12.
1 tiếng bip dài, 2 tiếng bip ngắn


Lỗi xảy ra ở video bios RAM.





13.
1 tiếng bip dài 3 tiếng bip ngắn


Bộ nhớ RAM bị lỗi, bạn cắm lại RAM nếu không được thì phải thay RAM mới.





14.
1 tiếng bip dài ,8 tiếng bip ngắn


Card màn
hình bị lỗi .Bạn cắm lại card màn hình,nếu vẫn không giải quyết được thì card
màn hình đã bị hỏng.Ngoài còn các mã bip của các hãng bios khác như: Mã bip của
Phoenix isa/mca/eisa bios, mã bip của ibm
destop bios, IBM Thinkpad Bios,mã bip của Quatel Bios, mã bip của Award Bios, mã bip của Bompad
Bios.





1.7.3.
Không
điều chỉnh được tốc độ CPU



Mặc dù bạn
điều chỉnh được tốc độ CPU trong CMOS nhưng khi thoát ra tốc độ vẫn như
cũ.Nguyên nhân thứ nhất là tần số thay đổi tần số CPU (CPU Overlocking Utility)
trong CMOS không được hỗ trợ bởi bios của mainboard, nên dự thay đổi này không
có tác dụng.


Trong trường hợp này nếu bạn muốn tăng tần số CPU
thì phải thay mainboard khác tốt hơn là thay CPU có tốc độ cao hơn.Nguyên nhấn
thứ 2 là có thể do một số CPU tốc độ 800mhz(nhất là của hãng Intel)được nhà sản
xuất khóa tần số (frequency blocked), nhằm chống hiệu chỉnh tần số và bảo vệ
CPU.Do đó cho dù bios có hỗ trợ điều chỉnh tần số bạn cũng không thể tăng tốc
cho CPU được ,trong trường hợp này cách tốt nhất là bạn thay CPU khác có tốc độ
cao hơn.





1.7.4.
Lỗi nâng cấp
hệ điều hành



Máy đang chạy ổn định với hệ
điều hành Win98,Win Me,v.v…nhưng khi sử dụng được khoảng vài chục phút thì tự
động thoát ra khỏi màn hình xanh(blue),và hiện lên một số thông báo. Sau đó khoảng 1 phút
máy tự động khởi động lại.Một trong những nguyên nhân gây ra là một trong những
phần cứng của máy không tương thích với Win XP.


Bạn phải nâng cấp Bios lên
phiên bản mới nhất trước khi cài Win XP.Nếu nhà sản xuất không cung cấp phiên
bản Bios hỗ trợ Win XP thì mainboard của
bạn không hỗ trợ Win XP.Trong trường hợp này nếu muốn sử dụng Win XP thì bạn
nên thay một mainboard khác.





1.7.5.
Màn hình không có tín hiệu khi bạn thay
đổi một số thông số trong CMOS



Nguyên nhân
là máy tính có hai card màn hình (hoặc một card với 2 ngõ xuất), các thông số
trong CMOS được thiết lập cho tín hiệu xuất ra ở một ngõ xuất, trong khi cáp
màn hình được cắm vào một ngõ khác, hoặc có thể là card màn hình không hỗ trợ
một số chức năng và việc thay đổi các thông thông số khiến các chức năng này
được kích hoạt, vì vậy card màn hình không hoạt động nữa.


Để khắc phục
bạn tháo pin CMOS hoặc set jumper để xóa CMOS, sau đó thiết lập lại các thông
số CMOS cho chính xác thì mọi việc sẽ trở lại bình thường.


Khi máy khởi
động và máy báo nhấn phím F1 để tiếp tục điều này xảy ra khi giá trị ngày giờ
trong CMOS không được thiết lập đúng, một thiết bị ngoại vi nào đó không hoạt
động.


Tuy nhiên
lỗi ngày giờ sai là khá phổ biến ,bạn thử vào CMOS setup kiểm tra xem ngày giờ
có đúng không. Nếu ngày giờ
được thiết lập chính xác mà vẫn xảy ra lỗi, rất có thể pin CMOS đã hết điện, bạn cần thay pin mới.





2.
Overlock (Ép xung)


2.1.
Khái
niệm



Ép xung là hoạt động làm tăng tốc độ của bất kỳ thành
phần nào lên cao hơn mức chỉ định của nhà sản xuất.


Chạy Overclocking có nghĩa là làm cho những thiết bị
trong máy tính của bạn chạy với tốc độ cao hơn tốc độ mà theo yêu cầu của nhà
sản xuất.


Có nhiều cách để chạy overclock nhưng đa số để tăng mức
độ hoạt động ở phần cứng.


Trong nhiều trường hợp sẽ làm cho hệ thống của bạn chạy
không tin cậy , thậm chí có thể làm cho phần cứng của bạn bị hỏng nếu không cẩn
thận.


Những tiến bộ xa hơn trong sản xuất BIOS và phần mềm
firmware giờ cũng giúp tốc độ của thiết bị được cải thiện mà không phải thay
đổi cài đặt chân cắm (jumper).


Trước đây, việc ép xung khá phức tạp do người dùng cần
can thiệp vào phần cứng, tuy nhiên trong điều kiện công nghệ phát triển, việc
thay đổi các thông số kĩ thuật hầu hết đã được chuyển vào BIOS trên bo mạch chủ
hoặc phần mềm trên nền hệ điều hành, vì thế thú chơi này giờ được đơn giản hóa
khá nhiều.





2.2.
Lợi
ích và rủi ro



Ép xung cho phép một linh kiện máy tính cấp thấp có thể
hoạt động ở mức hiệu năng ngang bằng hoặc thậm chí là vượt hơn loại linh kiện
cao cấp đắt tiền.











Tuy nhiên hai yếu tố này có thể tránh được nếu hệ thống
sau khi ép xung được thử nghiệm kĩ lưỡng bằng các phần mềm chuyên dụng ví dụ
như Prime 95 hay SuperPI, ... Những phép thử ô trường kì như Torture Test của
Prime 95 là chuẩn mực cho sự ổn định mà bất cứ một tay chơi ép xung nào cũng
phải vượt qua trước khi tự tin rằng mình đã vươn tới được một mốc xung nhịp
mới.


Ép xung cho phép hệ thống cấp thấp có thể đạt đến mức
độ hoạt động mạnh mẽ hơn. Ví dụ, chip Pentium IV 3,0 GHz có thể đạt 3,4 GHz.
Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhẩt của việc này là gây hư hại phần cứng, mất dữ liệu.
Vì vậy, người ta phải cho hệ thống qua các quy trình kiểm nghiệm để tránh rủi
ro. Các yếu tố sau đây ảnh hưởng lớn tới “sự sống” của máy.


Tốc độ: Các mạch điện tích hợp có tuổi thọ nhất định vì
mỗi hoạt động sẽ làm thoái hoá chúng ở một mức nhỏ. Việc tăng gấp đôi số vòng
hoạt động trong mỗi giây sẽ làm tuổi thọ này giảm đi một nửa.


Nhiệt lượng: Các mạch điện thoái hoá nhanh hơn khi
nhiệt độ tăng. Nhiệt độ cũng là kẻ thù của sự ổn định trong hệ thống nên người
ta sẽ phải tìm nhiều cách để giữ máy luôn mát mẻ. CPU được thiết kế để hoạt
động từ -25 đến 80 độ C nhưng thông thường phải luôn giữ chúng dưới 50 độ và
càng mát càng tốt.


Hiệu điện thế tăng cho phép các tín hiệu truyền đi mạnh
hơn nhưng cũng khiến mạch điện thoái hoá nhanh và gây hỏng hóc. Việc tăng hiệu
điện thế cũng song hành với tăng nhiệt độ, dù không làm hỏng chip ngay nhưng sẽ
dần dần làm giảm tuổi thọ của nó.


* Mặt trái của việc ép xung chính là gây hỏng hóc các
thiết bị phần cứng, đặc biệt là sự mất ổn định của hệ thống và nguy cơ mất mát
dữ liệu.











2.3.
Lý do
không thể overlock



1.
Bảo
vệ phần cứng


Trên hầu hết CPUs và Mobo đều có cảnh báo
về nguy cơ hỏng thiết bị khi OC.





2.
Làm
CPU hoạt động trong tình trạng cưỡng bức


(Việc này ảnh hưởng tới toàn hệ thống nếu
bạn tăng FSB-không riêng CPU mà các tuyến PCI, AGP, IDE đều được tăng tốc) các
chipset Nvidia, Intel có khả năng khoá bus PCI/AGP nên bạn không cần lo lắng về
điều này.





3.
Nóng
thiết bị


Nhiều nhiệt toả ra từ CPU (và RAM nếu bạn
tăng FSB).





4.
Tính
nhạy cảm


Sự cảm nhận nhiệt độ của hệ thống của bạn
sẽ có ảnh hưởng lớn tới hiệu năng. Nếu bạn OC trong mùa đông thì khi hè tới bạn
sẽ phải giảm tốc độ hệ thống vì hệ thống khổng thể chạy ổn định dưới sự thay
đổi lớn của nhiệt độ môi trường.





5.
Tính
hiệu quả


Việc tăng tối CPU bằng OC không tăng hiệu
năng xử lý dữ liệu (ở đây muốn nói tới lượng dự liệu được xử lý trong số chu kỳ
lệnh như nhau) mà chỉ tăng được số lệnh của CPU trong một giây. Ví dụ, một CPU
AMD TBird 1.0 OC lên 1.4 sẽ không tốt như một CPU AMD XP 1.4, rất đơn giản vì
dòng XP có rất nhiều cải tiến tối ưu mà TBird không có, như bộ lệnh SSE đầy đủ
là một ví dụ (SSE-Streaming SIMD extensions, SIMD-Single Instruction Multiple
Data).





6.
Những
rắc rối?


Nhiều người được hướng dẫn tận tình để OC
hệ thống của mình. Mặt khác những, tự mày mò OC lại là học tập và rất thú vị.
Có lẽ các rắc rối xuất hiện từ đây.





2.4.
Lý do
có thể overlock



1.
Tốc
độ


CPU của bạn
sẽ xử lý được nhiều phép tình hơn trong một giây đồng hồ (và tăng tốc RAM nếu
tăng FSB).





2.
Tiết
kiệm tiền


Bạn muốn mua
CPU p4C 3.2ghz trong khi bạn có thể mua 2.4 ghz với một nửa số tiền và OC để có
cùng tốc độ với 3.2ghz và hơn thế nữa. Lý do vô cùng quan trọng với chúng ta.





3.
Giải
quyết những khó khăn


Một
Overclocker phải biết rõ về tất cả những gì đang xảy ra trong hệ thống của
mình, vì nếu không biết thì hệ thống đấy không bao giờ hoạt động nên hồn cả.
Việc luyện tập OC đi tới thành công sẽ dạy cho chúng ta vô vàn kiến thức hữu
ích về hệ thống máy tính, cái điều mà có lẽ chẳng có trường Đại Học nào dạy cả
(Câu này chắc các bác OCer thích lém đây - được ca gợi nhé). Tất cả mọi thứ từ
nhiệt độ CPU, tới cập nhật BIOS, tới các trình điều khiển của Operating System,
tới việc thiết lập các Jumper của Mobo, các kiến thức về chipset. Các kiến thức
này đúng là vô giá.





2.5.
Cách
overlock



Có nhiều
cách để OC CPU và các thành phần khác của hệ thống. Trong khi OC chúng ta phải
thay đổi một số thông số sau đây (để biết cụ thể chắc bạn phải tự OC thử xem
sao. Và một câu thường gặp – Use this document at your own risk)


v Front Side Bus (FSB)


Thông số này nói lên tốc độ
trao đổi liên lạc điều khiển của chipset tên Mobo với CPU, và nó là một trong
hai nhân có chính tác động lên tốc độ của CPU, được tính bằng MHz.





v Hệ số nhân CPU (CPU Clock Multiplier)


Hệ số này được tăng theo 0.5
đơn vị (VD: 10.0, 10.5, 11.0,...) Hệ số này chỉ ảnh hưởng tới CPU, và chính là
hệ số còn lại ảnh hưởng tới tốc độ CPU khi kết hợp với FSB.Các CPU Intel từ P2
đã clock HSN hết nên bạn chỉ có thể kéo bú mà thôi





v Điện áp nhân CPU (CPU Core Voltage -
Vcore)


Đây là lượng điện áp của MoBo
cung cấp tới CPU. Việc TĂNG điện áp sẽ đẳm bảo cho việc CPU truyền dữ liệu trơn
tru và ngăn cản sự gián đoạn khi truyền dữ liệu khi CPU được OC. Đồng thời khi
tăng Vcore cũng làm tằn nhiệt độ của CPU - điều này cũng thật dễ hiểu vì P=UI,
công suất tăng thì nhiệt lượng toả ra cũng tăng. Hãy vào trang chủ của AMD và
Intel để tra cứu điệp áp cho CPU của bạn vì các loại CPU khác nhau cũng sẽ có
mức điện áp yêu cầu khác nhau - http://www.amd.com/ hoặc http://www.intel.com/.





v Điện áp RAM (RAM Voltage - Vio)


Đây là lượng điện áp của MoBo
cung cấp tới các đơn vị RAM. Tương tự như Vcore, nó đảm bảo cho hoạt động ổn
đinh của RAM ở tốc độ cao hơn khi OC. Tuy nhiên bạn cũng không cần tăng nó khi
tăng FSB trong khi giảm Clock Mulitplier.





Việc tăng
CPU Clock Multiplier chỉ ảnh hưởng tới CPU. Hầu hết các OCer làm là tăng FSB mà
không tác động tới hệ số nhân CPU. Việc các OCer chuyên nghiệp làm là giảm hệ
số nhân trước rồi tăng tối đa FSB (việc này không đẩy MAX được CPU Clock Speed
nhưng sẽ tối ưu hơn cho toàn hệ thống do FSB có ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống
của bạn).








2.6.
Quá
trình overlock



Đầu tiên cần xác
định giới hạn overclock của CPU. Có thể xác định giới hạn này bằng cách xem kết
quả overclock của những người khác sử dụng CPU giống mình. Xem tại:
http://www.futuremark.com/.


Tốc độ của CPU
phụ thuộc vào bus mặt trước (FSB) và hệ số nhân (Multiplier).



§
Bus mặt trước(FSB) là
gì?



Là đường truyền dữ liệu từ CPU đến bộ nhớ
chính (RAM và ROM). Vì thế khi tăng FSB không những chỉ tăng tốc độ của CPU mà
còn tăng tốc độ tòan bộ hệ thống.



§
Tại sao lại có hệ số
nhân?



Do tốc độ của các bus khác
(PCI, AGP, etc) đều phụ thuộc vào tốc độ của bus mặt trước (FSB), hệ số nhân
được sử dụng để điều chỉnh tốc độ của các bus này giúp cho các thiết bị hoạt
động ổn định. Mỗi thiết bị có một hệ số nhân khác nhau. Một vài hệ số nhân làm
tăng tốc độ của thiết bị so với tốc độ của FSB như hệ số nhân của CPU ( 10 hoặc
13 hoặc etc tùy thuộc vào CPU). Một vài hệ số nhân của các thiết bị khác lại
làm chậm tốc độ của thiết bị so với tốc độ của FSB ví dụ như của AGP.






v
Quá trình thây đổi bus mặt trước


Đây là
sử dụng bộ vi xử lý Intel's Pentium 4 làm ví dụ. Tuy nhiên Intel đã khóa
hệ số nhân nên chúng ta chỉ có thể thay đổi bus mặt trước(FSB).



Pentium 4 2.4 A có hệ số nhân là 24 và bus mặt
trước là 100 Mhz. Do vậy có thể suy ra tốc độ mặc định của CPU này là 24* 100 =
2400 Mhz =2.4 GHz ( hệ số nhân * bus mặt trước).



Ta có thể oc CPU này bằng cách tăng bus mặt
trước từ 100Mhz -> 133 Mhz. Điều này có nghĩa là sẽ tăng tốc CPU từ 2.4 Ghz
lên 24*133 = 3192 MHz ~ 3.2 Ghz.



Để thay đổi FSB, khi máy vừa khởi động , nhấn
fím delete để vào BIOS. Trong mục Frequency/Voltage Control ta có thể thay đổi
FSB (Tên mục này có thể thay đổi tùy theo motherboard).



Thông thường, để chạy ổn định, khi tăng FSB,
cũng sẽ phải tăng hiệu điện thế cung cấp
cho CPU (Vcore). Vcore cũng có thể thay đổi được trong BIOS.



Bây giờ save các settings này lại và thoát
khỏi màn hình bios. PC sẽ khởi động lại. Lúc này cần nhìn lên màn hình khởi
động xem có thay đi gì không. Thông thường máy tính sẽ đọc tốc độ mới của hệ
thống. Tuy nhiên nếu máy tính lại báo tốc độ mặc định, hoặc không vào được
windows, khởi động lại và vào màn hình BIOS. Bây giờ có 2 lựa chọn: hoặc tăng
hiệu điện thế cho CPU, hoặc giảm FSB xuống.



Cần nhớ rằng việc tăng Vcore có thể làm máy chạy ổn định ở FSB cao hơn, tuy
nhiên, FSB và Vcore càng cao thì CPU càng nóng. Nhiệt độ cao có thể khiến hệ
thống chạy không ổn định hoặc làm chết CPU. Để đo nhiệt độ, tốc độ, và hiệu
điện thế của CPU có thể sử dụng chương trình motherboard monitor .






2.7.
Những
thành phần có thể overlock



Người ta có thể tối ưu hóa hoạt động chủ
yếu cho vi xử lý, bộ nhớ và chip đồ họa. Những thành phần khác như bus PCI và
PCI Express, cổng serial hay USB cũng có thể áp dụng phương pháp này nhưng kết
quả không rõ ràng.


2.7.1.
Ép xung CPU











Lõi của các vi xử lý hiện nay hoạt động ở
nhiều bội số của tốc độ đồng hồ. Ví dụ Pentium III 500 MHz chạy được gấp 5 lần
front side bus 100 MHz (5 x 100 MHz = 500 MHz). Chỉnh bội số này hoặc tần số
lên cũng mang lại tốc độ cao hơn. Ví dụ: 600 MHz có thể đạt được bằng cách nâng
bội số bằng 6 hoặc tăng tốc độ bus lên 120 MHz để 5 x 120 MHz = 600 MHz.


Khó khăn duy nhất với cách phân tích này
là những vi xử lý loại đó lại có bội số cố định nên việc nâng 5x lên 6x không
phải lựa chọn của người ép xung. Tuy nhiên, người ta có thể nâng bội số với một
số mẫu chip khác sau khi "bẻ khóa". Ví dụ, vi xử lý Slot A Athlon đã
được tăng tốc theo cách này trước khi sản phẩm thương mại xuất hiện trên thị
trường.


Tần số CPU vẫn bắt nguồn từ bội số của tốc
độ đồng hồ chứ không phải tốc độ dữ liệu. Front side bus 1066 của Intel hoạt
động trên tốc độ đồng hồ là 266 MHz, HyperTransport Interconnect 2000 MHz của
AMD dùng đồng hồ tốc độ 200 MHz. Điều này có nghĩa là một chip Athlon 64 X2
4600+ của AMD dùng bội số 12x để đạt được mức 2,4 GHz, trong khi Core 2 Duo E6600+
của Intel đạt 2,4 GHz bằng cách dùng bội số 9x.


Những bộ xử lý hiện đại có thể hoạt động ở
xung nhịp hiệu quả bằng bội số của xung nhịp giao diện. Vì vậy thường người
dùng chỉ có 2 cách, hoặc tăng tốc độ bus hoặc tìm cách mở khóa hệ số nhân này.
Tuy nhiên để có CPU không giới hạn hệ số nhân thực sự không phải việc đơn giản.



Một số mẹo đã được các tay chơi khám phá
ra như cắt cầu điện, nối chân nhưng nhìn chung rất mạo hiểm, đôi khi nhà sản
xuất cũng tung ra những sản phẩm không khóa hệ số nhân ví dụ như dòng chip mẫu
ES (Engineering Sample) của Intel hoặc chip cao cấp Athlon64 FX của AMD nhưng
chúng khá hiếm hoặc rất đắt tiền.

















Hầu
hết các bộ vi xử lý hiện nay đều có khả năng ép xung rất tốt, thông thường có
thể tăng thêm 50-70% xung nhịp gốc, điều này là do kiến trúc lõi của chúng được
thiết kế cho mức xung nhịp cao hơn nhiều. Tuy vậy dù có thể khả năng ép xung
tương đương nhau nhưng không có nghĩa các loại CPU tốc độ thấp có thể sánh với
đàn anh của chúng.


Chính
vì vậy, nếu bạn thuộc tuýp người dùng muốn bỏ ít được nhiều, hãy chọn các loại
CPU tốc độ thấp nhất để tiết kiệm chi phí vì khả năng ép xung của chúng thường
rất tốt. Tuy nhiên nếu muốn vươn tới các đỉnh cao tốc độ, hãy lựa chọn những
series đầu bảng để ép xung, dĩ nhiên, giá của chúng sẽ cao hơn nhiều.





2.7.2.
Ép xung bộ
nhớ chính (RAM)












Hầu
hết các bộ nhớ có thể tối ưu hóa ở mức độ nào đó nhưng khá phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như chất lượng của chip, thiết kế bo mạch và lắp ráp module. Ép xung bộ
nhớ đã trở nên phổ biến đến mức các nhà sản xuất RAM đã công bố những sản phẩm
nhanh nhất khi áp dụng cách này.


Lợi
thế của ép xung bộ nhớ là vượt xa khả năng hoạt động cơ bản của chúng để có tốc
độ nhanh tương đương CPU. Ví dụ, Pentium III được ép xung tới 150 MHz sẽ phối
hợp tốt với bộ nhớ cũng đạt tốc độ này.


Một
số tay ép xung còn thiếu kinh nghiệm thường đẩy RAM quá giới hạn ổn định của nó
và khi thất bại lại cho rằng đó là do thành phần sai. Sự "hiểu nhầm"
này bắt nguồn từ menu BIOS hiển thị tốc độ bộ nhớ như tốc độ dữ liệu liên quan
đến CPU không được ép xung. Do trình điều khiển bộ nhớ chạy RAM với tốc độ như
CPU nên bất cứ sự thay đổi nào về tốc độ CPU cũng gây ra ảnh hưởng nhất định
đối với tốc độ bộ nhớ.


Ví dụ
một chip FSB1066 Core 2 Duo đi kèm bộ nhớ DDR2-533 đều hoạt động ở tốc độ đồng
hồ 266 MHz. Chọn cài đặt bộ nhớ 533 MHz và ép xung CPU lên 333 MHz sẽ khiến bộ
nhớ chạy ở mức 667 MHz, mặc dù BIOS vẫn báo là 533 MHz. Một số nhà sản xuất
phải cho thêm hai thông báo tốc độ gốc và tốc độ thực sự. Còn những ai không có
thông báo này thì cần làm phép tính thủ công.


Ép
xung bộ nhớ cũng có những rủi ro như mất dữ liệu khi chương trình bị lỗi, hỏng
hóc do quá nóng...


Không
giống CPU, việc ép xung bộ nhớ đã trở nên cực kì quen thuộc thậm chí các nhà
sản xuất RAM cao cấp đều có những dòng sản phẩm đã ép xung sẵn dành cho dân
chơi máy.


Ưu
thế của việc ép xung bộ nhớ là cho phép nó vượt qua giới hạn mặc định để theo
kịp với bus giao tiếp của CPU, một ví dụ đơn giản: thường Pentium III chỉ hoạt
động ở FrontSideBus 133 MHz với SDR SDRAM 133Mhz, nếu bạn ép bus lên 150MHz mà
RAM vẫn chỉ ở 133 Mhz thì rõ ràng tốc độ sẽ bị hạn chế, trong trường hợp này,
tối ưu nhất chính là việc đẩy tốc độ của RAM lên tương ứng cùng 150MHz thì hiệu
năng sẽ thực sự được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên không phải loại chip RAM nào
cũng đáp ứng được mức tốc độ này.


Những
dân chơi ép xung thiếu kinh nghiệm thường đẩy RAM lên quá mức giới hạn ổn định
rồi đổ lỗi hệ thống cho chúng. Điều này một phần là do các phiên bản BIOS của
bo mạch chủ thường hiển thị "tốc độ" bộ nhớ thành tần số truyền dữ
liệu mặc định ứng với CPU tiêu chuẩn (133/166/200/233...).


Trong
khi đó, trên thực tế do khối điều khiển bộ nhớ điều hành RAM ở một tỉ lệ nhất
định với bus của CPU nên bất cứ thay đổi nào của xung nhịp CPU sẽ có ảnh hưởng
tới tốc độ RAM.


Những
trục trặc đe dọa hệ thống khi ép xung bộ nhớ cũng tương tự như với các thành
phần khác, nhưng đặc biệt nghiêm trọng là việc mất dữ liệu và sụp hệ thống do
vai trò của RAM lưu dữ liệu tạm, nếu RAM bị lỗi trong quá trình vận hành thì
những dữ liệu đang lưu trong nó sẽ bị mất hoặc hỏng hoàn toàn.





2.7.3.
Ép xung card
đồ họa



Tần
số của card đồ họa độc lập với cài đặt của bo mạch chủ mà phụ thuộc vào đồng hồ
và mạch điện điều khiển riêng. Các cài đặt này được lưu ở firmware của card,
cho phép các chương trình ép xung card đồ họa đặc biệt chỉnh được tốc độ vi xử
lý và RAM đồ họa ngay trong Windows. Thiết bị này cũng đối mặt với nhiều rủi ro
về nhiệt độ, gây ra tình trạng hỏng hình ảnh khi ép xung thất bại.


Các
thành phần của card đồ họa có xung nhịp hoạt động hoàn toàn độc lập với thông
số của bo mạch chủ và thông tin mặc định được chứa trong firmware của card cho
phép những phần mềm ép xung card đồ họa chuyên dụng thay đổi tốc độ GPU và RAM
của card ngay trong hệ điều hành.





ATI
hỗ trợ ép xung ngay trong trình điều khiển Catalyst













Bảng điều khiển ép
xung của nVIDIA




Việc đẩy tốc độ của
card đồ họa có phần "an toàn" hơn so với CPU hay RAM vì người dùng
thường sẽ không bị mất dữ liệu bởi trong trường hợp card không ổn định, nó sẽ
bị lỗi hình lấm chấm hoặc vân bề mặt bị rách chứ ít khi gây sụp hệ thống. ép
xung đồ họa được nhiều dân chơi ưa chuộng vì hiệu quả cải thiện thấy rõ trong
các trò chơi 3D nặng cũng như ứng dụng đo điểm.


Nếu chỉ ép xung chút
ít để học hỏi, không cần quan tâm đến trục trặc bởi tuổi thọ thiết bị hiện nay
rất dài, chúng thường hết giá trị sử dụng trước khi hỏng hẳn, hơn nữa các nhà
sản xuất đều có chế độ bảo hành sản phẩm tới 3 năm (đặc biệt đối với CPU, RAM,
card đồ họa và bo mạch chủ). Ngoài ra, có nhiều ứng dụng kiểm tra độ ổn định
của hệ thống, chỉ cần sử dụng chúng đúng cách là bạn có thể tránh nhưng trường
hợp máy bị trục trặc do ép xung không đúng cách dẫn tới mất mát.
Về Đầu Trang Go down
 
TÌM HIỂU VỀ BIOS VÀ CMOS
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Sửa Chữa Máy Tính Tại Nhà - LH: 090 421 6667 - Phục Vụ Tân Nơi  :: ♥☆.•° *Câu Lạc Bộ Tin Học* °•.☆♥ :: ♥☆.•° * Phần Cứng * °•.☆♥-
Chuyển đến 
Thông tin diễn đàn

Bản quyền nội dung by SuaChuaMayTinhTanNha.Com
Design byNgocThuanITC
Copyright ©2010. All rights reserved.
Diễn Đàn Công Ty TNHH TM DV Tin Học NTC

Lưu ý: Xem diễn đàn tốt nhất ở độ phân giải 1024x768 và sử dụng Firefox
.
Tổng Số Lượng Truy Cập Diễn Đàn: Số Lượng Truy Cập 

Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | www.sosblogs.com